Nhà thờ Tiền hiền làng Hà Lam hiện nay thuộc xã Thăng Bình, thành phố Đà Nẵng (trước tháng 7/2025 là thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) [1][2]. Đây là công trình gắn với lịch sử của làng cổ Hà Lam, được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2023 [1]. Ngôi nhà thờ này còn là nơi lưu giữ 9 tấm bia đá chuyển về từ Văn thánh huyện Lễ Dương sau khi Văn thánh bị xóa bỏ năm 1985 [2].
Thiết chế làng cổ và di tích cấp tỉnh
Theo bài viết trên Báo Đà Nẵng, làng Hà Lam theo sổ bộ quản lý đất đai trước năm 1975 có diện tích 2.650 mẫu (1.325 ha), gồm 28 xứ đất với 8 ấp [1]. Làng xưa có vùng trung tâm cùng các vùng “giao canh” và “trại điền” mở rộng quy hoạch trên phạm vi phủ và huyện [1]. Từ năm 1820, làng đã lập “kho nghĩa thương” để dự trữ thóc lúa cấp cho người nghèo và lập “học điền” để khuyến khích việc học [1]. Năm 1866 dưới triều Tự Đức, làng được triều đình phong tặng biển ngạch “Thiện tục khả phong” [1].
Trong số các công trình còn lại, nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam là thiết chế văn hóa gắn liền với quá trình tồn tại và phát triển của làng [1]. Ngày 24/11/2023, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 2540 xếp hạng nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam là di tích lịch sử cấp tỉnh [1]. Đến ngày 23/3/2024, chính quyền địa phương tổ chức lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử này [1].
Chín tấm bia đá chuyển từ Văn thánh Lễ Dương
Nhà thờ Tiền hiền làng Hà Lam hiện là nơi đặt 9 tấm bia đá kích thước khá lớn (trong đó có 1 tấm bị vỡ thành 3 mảnh), thường gọi là bia Văn thánh để phân biệt với các bia khác trong làng [2]. Các tấm bia này nguyên được dựng ở hai bên tường nhà Tiên đạt trong sân trước của Văn thánh huyện Lễ Dương, cách nhà thờ khoảng 500 mét [2]. Văn thánh huyện Lễ Dương xây dựng từ năm 1856 dưới triều vua Tự Đức, sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện [2]. Đến năm 1985, Văn thánh bị xóa bỏ để lấy mặt bằng mở rộng Trường tiểu học Hà Lam (sau đổi thành Trường tiểu học Kim Đồng) [2]. Khi Văn thánh bị phá dỡ, một số vị trong Hội đồng chư tộc Tiền hiền làng Hà Lam đã thu gom các bia đá đem về gửi tạm tại nhà thờ Tiền hiền cho đến nay [2].
Chín tấm bia được khắc dựng qua các giai đoạn từ năm 1896 dưới thời Thành Thái đến năm 1939 dưới thời Bảo Đại [2]:
- 6 tấm đầu tiên khắc năm 1896, gồm tấm số 1 có tên “Lễ Dương huyện nhân vật bi chí” và các tấm từ số 2 đến số 6 có tên “Lễ Dương huyện khoa hoạn bi chí” [2]. Việc dựng bia do Phó bảng Nguyễn Thuật (người làng Hà Lam, khi đó làm Thượng thư tại triều) khởi xướng và duyệt nội dung; Cử nhân Nguyễn Hữu Quang (người làng Ngọc Phô, Huấn đạo Quế Sơn) cùng Tả trực đạo Ngự sử Lê Bá Hoan và Đốc học Nguyễn Trạc khởi thảo; Phó bảng Võ Vĩ (người làng Hiền Lương) viết chữ lên bia [2]. Tấm số 1 khắc về hai nhân vật: Tá vận công thần Đoan hùng quận công Nguyễn Văn Trương (người quê làng An Lý, nay thuộc xã Bình Phú cũ, được phong Đệ nhất Ngũ hổ tướng Gia Định) và Đốc học Trương Công Diêu (vị Đốc học đầu tiên của Quảng Nam dưới triều Nguyễn) [2].
- Tấm số 7 chưa rõ năm dựng, do Cử nhân Nguyễn Kinh (con thứ của Nguyễn Thuật) viết chữ [2].
- Tấm số 8 dựng năm 1920 dưới thời Khải Định [2].
- Bảy tấm bia khoa bảng (từ tấm 2 đến tấm 8) ghi danh 1 tiến sĩ, 3 phó bảng, 32 cử nhân (hương cống) và 147 tú tài (gồm 1 tú tài tân học) của huyện Lễ Dương; các vị đỗ cử nhân trở lên được ghi chép thêm một phần hành trạng và sự nghiệp quan trường [2].
- Tấm số 9 dựng năm 1939 dưới thời Bảo Đại mang tên “Thăng Bình phủ Tiết nghĩa phụ bi chí”, vinh danh những người phụ nữ của phủ Thăng Bình được ban thưởng danh hiệu Tiết hạnh khả phong, Hảo nghĩa khả phong hoặc Lạc quyên nghĩa phụ [2].
Quá trình biên tập và bảo tồn văn bia
Theo lời bạt ở bia số 6 do Đốc học Nguyễn Trạc chấp bút, việc soạn nội dung văn bia được tiến hành qua nhiều bước cẩn trọng [2]. Nhóm tác giả gặp các nhân sĩ trong huyện để nắm thông tin, đối chiếu với gia phả các dòng họ và sách Đăng khoa lục, sau đó họp duyệt bản thảo và khảo tra các điểm còn nghi vấn trước khi lập thành bản hoàn chỉnh [2]. Bản thảo sau đó được chuyển theo đường nhà trạm ra kinh đô Huế để Nguyễn Thuật (lúc đó giữ chức Thượng thư kiêm Tổng tài Quốc sử quán) tra cứu sử sách, duyệt và bổ sung lần cuối trước khi khắc [2].
Năm 1998, trong đợt trùng tu nhà thờ Tiền hiền làng Hà Lam, UBND huyện Thăng Bình hỗ trợ kinh phí để làm thêm phần mái hiên che chắn các tấm bia đá [2]. Đến năm 2014, UBND huyện giao hai nhà nghiên cứu Hán Nôm Nguyễn Văn Hà và Nguyễn Bằng khảo sát, dịch thuật và chú thích toàn bộ 9 tấm bia này cùng 4 tấm bia khác, in thành tập sách “Bia Văn thánh và một số văn bia Hán Nôm tại huyện Thăng Bình” xuất bản năm 2015 [2].
Tra cứu liên quan
- Lịch sử địa phương: Hà Lam, xã Thăng Bình
- Đơn vị hành chính: bảng tra phường xã, quận huyện cũ thuộc phường xã nào
- Nhân vật và công trình: danh nhân xứ Quảng, đình Túy Loan, đình Hải Châu
Điều còn chưa rõ
- Năm khởi dựng ban đầu của ngôi nhà thờ Tiền hiền làng Hà Lam chưa được ghi chép trong hai bài báo [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm chế tác và khắc dựng chính xác của tấm bia số 7 trong cụm bia Văn thánh [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vị trí lưu giữ và lai lịch của 4 tấm bia Hán Nôm khác được nhắc tới trong sách xuất bản năm 2015 [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh nhà thờ tiền hiền làng Hà Lam”, 23/03/2024, https://baodanang.vn/don-nhan-bang-xep-hang-di-tich-lich-su-cap-tinh-nha-tho-tien-hien-lang-ha-lam-3131653.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Chín tấm bia ở nhà thờ Tiền hiền làng Hà Lam”, 05/03/2017, https://baodanang.vn/chin-tam-bia-o-nha-tho-tien-hien-lang-ha-lam-3230664.html, truy cập 23/10/2026.