Khương Mỹ là một ngôi làng cổ nằm ở bờ nam sông Tam Kỳ, từng thuộc tổng Đức Hòa, huyện Hà Đông [1]. Bài báo ghi thôn Khương Mỹ (trước 7/2025: xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành), nay thuộc xã Tam Xuân [1]. Địa bàn này phân biệt với một làng cùng tên ở tổng An Châu Thượng thuộc huyện Hòa Vang cũ [1]. Vùng đất Khương Mỹ phía nam gắn liền với quần thể kiến trúc Champa tháp Khương Mỹ, di tích chùa Tam Bảo và hệ thống tư liệu ruộng đất ghi nhận từ thời Nguyễn [1].
Tên gọi và địa giới ruộng đất thời Nguyễn
Trong tác phẩm “Phủ biên tạp lục”, chữ đầu của địa danh Khương Mỹ được chép bằng chữ Khang bộ Nghiễm (có thể đọc là Khang hoặc Khương) [1]. Mặt chữ này còn xuất hiện trong văn bản giao dịch ruộng đất lập năm Cảnh Thịnh thứ ba (1795) thời Tây Sơn tại nhà từ đường tộc Trần Hưng [1]. Về sau, chữ Khang được chuyển sang chữ Khương bộ Nữ và trở thành dạng tự phổ biến trên văn bản suốt thời Nguyễn [1].
Theo sổ bộ ruộng đất thời Nguyễn lập trong giai đoạn 1805 – 1836, làng Khương Mỹ nằm ở bờ nam sông Tam Kỳ, có một đoạn đường thiên lý dài 33 tầm (khoảng 700 mét) chạy qua [1]. Phía bắc làng giáp sông Tam Kỳ, phía nam giáp xã Phú Hưng, phía tây và tây nam giáp các xã Phú Lân Đông và Đức Hòa [1]. Tổng diện tích ruộng đất của làng là 71 mẫu 10 thước 3 tấc 1 phân, trong đó ruộng tư chiếm gần 67 mẫu, phần còn lại là đất thổ phụ gò nỗng [1]. Dân cư từ các xã khác chỉ sở hữu 2 mẫu 4 sào ruộng tại đây, phần lớn do con gái của làng đi lấy chồng nơi khác được cha mẹ chia đất [1].
Các xứ đất và phế tích đền tháp
Địa hình làng Khương Mỹ xưa mang đặc trưng cồn bàu với các xứ đất mang tên A Vó, A Lúa, Trà Nê Thượng, Trà Nê Hạ, Cổ Tháp và Rừng Cầy [1]. Bàu Trà Nê nằm dọc theo tuyến đường tránh ngang qua khu vực Tam Kỳ; phía bên kia bàu tọa lạc ba ngọn tháp Khương Mỹ [1]. Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi lại truyền thuyết đây là nơi an táng vợ vua Chiêm Thành [1]. Về nguồn gốc địa hình, bàu Trà Nê là dấu tích của một lạch sông tự nhiên kéo dài về phía đông nối tới khu vực di chỉ Bàu Dũ [1].
Trước cụm tháp Khương Mỹ, cư dân địa phương từng duy trì tục làm lễ cầu mưa vào các vụ hạn hán [1]. Cách cụm tháp chính khoảng 500 mét về phía đông, tại khu vực giáp ranh giữa làng Khương Mỹ và làng Phú Hưng, từng tồn tại một phế tích tháp cổ gọi là tháp Lạn hay tháp Một [1]. Hằng năm người dân từng tổ chức Lễ Cầu Bông cầu mùa màng tại đây với các nghi thức phản ánh dấu vết sinh hoạt Chăm cổ xưa [1]. Ngay trước tháp Chăm còn có chùa Tam Bảo; nhà khảo cổ người Pháp Henri Carpeaux đã chụp lại hình ảnh ngôi chùa này vào tháng 7/1903 [1]. Sau này nền chùa đã được dịch chuyển ra xa hơn so với vị trí ban đầu [1].
Đình Bến Đình và các thiết chế tín ngưỡng
Ở bờ nam sông Tam Kỳ, tại vị trí Bến Đình nằm giữa cầu mới và cầu đường sắt, từng có ngôi đình làng Khương Mỹ được xây dựng theo lối kiến trúc bát vần gồm 24 cột gỗ, bốn mái chính và bốn mái phụ lợp ngói [1]. Đình gồm gian ngoài phụng thờ các bậc tiền hiền, hậu hiền; gian trong đặt bài vị Chánh Thần cùng hương án lưu giữ sắc phong [1]. Hằng năm vào rằm tháng bảy, các đạo sắc do lý trưởng (thủ sắc) trông coi được rước trên kiệu Long đình về đình làng để cúng tế [1]. Trong giai đoạn 1947 – 1954, ngôi đình bị tháo dỡ trong phong trào tiêu thổ kháng chiến, hiện nay chỉ còn lại tự đài nhỏ trên nền hậu tẩm cũ [1].
Bên cạnh đình làng, ký ức cư dân còn ghi nhận hai ngôi miếu lớn: miếu thờ Thành hoàng tại xứ Rừng Cầy ở phía nam và miếu thờ Đại càn Nam hải Tứ vị Thánh nương ở sát ven sông Tam Kỳ [1]. Do nằm gần bến đò phía nam của tuần đò Tam Kỳ, hằng năm làng Khương Mỹ phải cung ứng khoảng 20 dân phu phục vụ dịch trạm Nam Kỳ đóng ở bờ bắc nhằm vận chuyển hàng hóa và đưa đón người làm công vụ qua sông [1].
Dòng họ và các nhân vật lịch sử
Tư liệu địa phương cho thấy các tộc họ lớn đã đến định cư tại Khương Mỹ qua nhiều thế hệ [1]. Tộc Nguyễn chuyển từ Nghệ An vào Quảng Nam cuối thế kỷ 16 rồi sau đó chuyển đến ngụ cư tại làng [1]. Tộc Trần Hưng cũng có nguồn gốc từ vùng Nghệ An và định cư tại Khương Mỹ từ đầu thế kỷ 17 [1].
Trong số các nhân vật xuất thân từ làng, ông Trần Hưng Nhượng là quan viên phục vụ qua ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức [1]. Ông từng dạy học cho các hoàng tử triều Thiệu Trị, trong đó có hoàng tử Hồng Nhậm (vua Tự Đức) [1]. Sau này khi đã 70 tuổi, ông vẫn được cử giữ chức Án sát sứ phụ trách trị an tại vùng biên giới Lạng Sơn và Cao Bằng [1].
Vào cuối thế kỷ 19, làng có ông Tú Quờn đỗ tú tài, sáng tác nhiều tác phẩm thi ca và tuồng hát bộ chữ Nôm dân gian như “Văn cúng cô hồn”, “Thơ ghẻ ngứa”, “Vè bà Phó” và “Tuồng đổ bác” [1]. Ngoài ra, làng còn có thầy thuốc đông y Trần Thiều, người từng nhiều lần đàm đạo thuật bốc thuốc với chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng tại Tiên Phước [1]. Khi chữa lành bệnh cho mẹ quan Tri phủ Tam Kỳ Nguyễn Hữu Tựu, ông Thiều từng từ chối ngồi xe công vụ của quan phủ vì quan niệm việc riêng không dùng phương tiện công [1].
Tra cứu liên quan
- Di tích khảo cổ và tín ngưỡng: tháp Khương Mỹ
- Nhân vật quê quán hoặc liên quan: Trần Hưng Nhượng, Huỳnh Thúc Kháng
- Vùng lân cận: xã Tam Xuân, Tam Kỳ
Điều còn chưa rõ
- Thời điểm khởi dựng ban đầu của chùa Tam Bảo trước tháp Khương Mỹ chưa có tư liệu văn bia xác định rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại chính xác khi chữ Khang được chính thức đổi thành chữ Khương trong văn bản hành chính triều Nguyễn [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Làng Khương Mỹ xưa”, 02/06/2019, https://baodanang.vn/lang-khuong-my-xua-3083701.html, truy cập 23/10/2026.