Văn hoá

Cồng chiêng miền núi Quảng Nam qua lời các già làng

Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà
Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà. Ảnh minh hoạ: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Văn hóa cồng chiêng ở vùng núi phía tây Quảng Nam gắn liền với nếp sống và tri thức bản địa của các thế hệ già làng [1]. Khi nghiên cứu văn hóa dân gian vào những năm 1990, GS Trần Quốc Vượng từng nhấn mạnh đến sự tích tụ tri thức qua quá trình cả đời từng trải mà ông gọi là “nghiệm sinh” của các già làng [1]. Qua những lời chia sẻ từ các già làng người Bh’noong, Cơ Tu, Xơ Đăng và Ca Dong, cồng chiêng hiện lên không chỉ như một nhạc cụ mà là trung gian kết nối giữa con người với thần linh, thiên nhiên và trật tự làng [1].

Khái niệm nghiệm sinh và biểu tượng mặt trời

Theo quan niệm của các già làng, âm thanh cồng chiêng đóng vai trò như lời cầu nguyện và thể hiện sự kính cẩn của cộng đồng đối với đất trời [1]. Già làng Hồ Văn Nhong (người Bh’noong, trước 7/2025: xã Phước Năng, huyện Phước Sơn; nay thuộc xã Phước Năng) giải thích rằng hình tròn của cồng chiêng là biểu tượng cho thần mặt trời (K’nantroc), vị thần quyền lực cao nhất luôn che chở cho người dân trong cuộc sống hằng ngày [1]. Dáng tròn này giúp âm thanh từ mọi chiếc chiêng lan tỏa đến trung tâm nơi các vị thần linh ngự trị [1]. Trong làng, người có nhiều cồng chiêng được tôn trọng vì niềm tin rằng họ được nhiều “thần chiêng” bảo bọc, chứ không đơn thuần vì giá trị của cải [1].

Già làng Cơlâu Nâm ở Tây Giang chia sẻ rằng tiếng chiêng giữ cho con người hướng thiện và mang lại sự bình yên cho làng; nếu vắng tiếng chiêng, con người như lạc lối giữa rừng sâu [1]. Các già làng ví cồng chiêng như con người, chiêng càng cổ thì sức mạnh được tin là càng lớn [1]. Những chiếc chiêng lâu đời thường được cất giấu cẩn thận trong các hang núi theo quy định nghiêm ngặt mà chỉ gia chủ mới biết, và người dân không bao giờ đem bán vì cho rằng làm vậy sẽ đánh mất phúc lành thần linh ban cho [1].

Tín ngưỡng phồn thực và hướng đánh chiêng

Bên cạnh yếu tố tâm linh, hình thức cồng chiêng còn phản ánh tín ngưỡng nông nghiệp của cư dân nương rẫy [1]. Già làng A Tùng Vẽ ở Đông Giang chia sẻ rằng dáng cồng chiêng với núm tròn nhô lên ở giữa gợi hình ảnh bầu vú người mẹ căng tràn, thể hiện tín ngưỡng phồn thực của người trồng lúa [1]. Tác giả bài báo ghi nhận ông ngẫu hứng hát một làn điệu dân ca “Cha chấp”, trong đó mượn hình ảnh cồng chiêng dâng rượu thịt để cầu xin thần linh ban cho con suối nhiều nước và nương rẫy xanh tươi [1].

Cùng gắn với niềm tin mùa màng, già làng Đinh Thập ở Trà Cang (trước 7/2025: xã Trà Cang, huyện Nam Trà My; nay thuộc xã Trà Tập) cho biết người Xơ Đăng có quy định khi đánh chiêng phải quay mặt về hướng Đông [1]. Hướng mặt trời mọc được xem là nơi sinh ra Mẹ lúa, và việc xoay người về hướng này giúp người diễn xướng giao tiếp với thần linh để cầu mong mùa màng bội thu [1].

Luật tục sử dụng và các điều cấm kỵ

Các cộng đồng miền núi tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt về việc sử dụng và cất giữ cồng chiêng [1]. Trong gia đình, chỉ gia chủ mới có quyền mang chiêng ra sử dụng, còn người lạ không được tự ý chạm vào [1]. Ở cấp độ làng, cồng chiêng chỉ được tấu lên khi có sự đồng ý của già làng trong các dịp lễ như mừng lúa mới, lập làng hay lễ kết nghĩa [1]. Ngày thường không có lễ hội thì tuyệt đối không đánh chiêng vì sợ kinh động thần linh, trời đất; nếu làm thần linh nổi giận, gia đình và làng được tin là sẽ gặp tai họa như mất mùa, bệnh tật [1].

Tập quán treo và bảo quản chiêng cũng có quy định riêng biệt [1]. Già làng người Ca Dong Hồ Văn Dinh cho biết khi treo cồng chiêng, bụng chiêng phải ngửa lên trên và phần núm tựa vào vách tường [1]. Người dân coi lòng chiêng và thành chiêng là miệng phát ra âm thanh; nếu đặt úp thì như úp miệng chiêng lại và hồn chiêng không còn; dùi đánh cũng được đặt trong bụng chiêng, được ông ví như đứa con ấp ủ trong bụng mẹ [1].

Đối với người Cơ Tu, luật tục quy định các lễ hội có mổ heo từ 3 gang tay trở lên, mổ bò 5 gang tay hoặc trâu 12 gang tay mới được mang trống cái và cồng chiêng có núm ra dùng [1]. Già làng Priu Pố ở Tây Giang cũng cho biết về quy định dùng chiêng khi săn thú rừng: nếu bắt được thú nhỏ như chồn thì không đánh chiêng; nếu bắt được con mang thì tuyệt đối cấm đánh vì tiếng mang kêu bị xem là báo điềm xấu [1]. Khi săn được nai hoặc sơn dương thì đánh nhịp chiêng chậm; ngược lại khi bắt được thú dữ như gấu hoặc hổ thì đánh nhịp chiêng dồn dập [1].

Nguy cơ mai một và gìn giữ văn hóa

Già làng Bling Hạnh ở huyện Nam Giang đúc kết mối quan hệ gắn bó giữa môi trường rừng núi và tiếng chiêng bằng câu nói: “Còn núi rừng còn cồng chiêng, mất núi rừng mất cồng chiêng” [1]. Tác giả bài báo nhận xét tiếng cồng chiêng gắn với sinh hoạt văn hóa theo suốt cuộc đời mỗi người [1].

Tuy nhiên, bài báo của tác giả Tôn Thất Hướng phản ánh mối lo âu khi không gian văn hóa cồng chiêng có nguy cơ thu hẹp dần [1]. Mối liên kết giữa con người, thiên nhiên và làng không còn bền chặt như trước, trong khi các bài nhạc chiêng cổ dần thất truyền do thiếu vắng nghệ nhân và già làng kế cận [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Thời điểm cụ thể tác giả tiến hành các chuyến điền dã gặp từng già làng ở vùng Đông Giang và Tây Giang [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Danh mục chi tiết các bài chiêng cổ đang đứng trước nguy cơ thất truyền ở từng tộc người [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Văn hóa cồng chiêng qua “nghiệm sinh” của già làng”, 08/08/2022, https://baodanang.vn/van-hoa-cong-chieng-qua-nghiem-sinh-cua-gia-lang-3026926.html, truy cập 24/10/2026.