Văn hoá

Chum, tĩn trong nhà quê xứ Quảng

Chum và tĩn là hai vật chứa bằng sành (chum còn có loại đúc xi măng) từng quen thuộc trong nhà nông thôn [1]. Bài “Chum, tĩn của một thời” của Trương Điện Thắng (2017) ghi lại công dụng của chúng qua ký ức tuổi thơ của tác giả, lời kể của người thân và vài trang văn [1]. Theo tác giả, khi vật liệu mới và các loại bao bì tiện lợi du nhập, chum dần mất dạng ở nhiều vùng quê [1].

Chum, kho chứa của nhà nông

Tác giả gọi chum là kho chứa nông sản an toàn của người nông dân: lúa, khoai, đậu thu hoạch về được đổ vào chum [1]. Nơi có nghề gốm thì làm chum sành, nơi khác đúc chum bằng xi măng [1]. Chum phình ở giữa thân, hai đầu chụm lại, nắp nặng và khít nên mèo chuột không trèo vào cắn phá được [1].

Vì chum nổi trên mặt nước, mùa mưa lụt có nơi các cụ gói gia phả, hình ảnh, trích lục ruộng vườn và vật quý của gia đình bỏ vào chum, phòng khi nhà ngã đổ hay bị nước nhấn chìm [1]. Chum nhỏ hơn gọi là vại, dùng đựng nước thay ảng hoặc chứa nước mưa dự trữ ở vùng chua phèn; các cụ thường pha chè bằng nước mưa [1]. Tác giả cũng ghi lại lời nghe kể rằng năm 1961 người ta phát hiện những lò làm chum sành có từ hơn 300 năm trước ở vùng Nghệ An [1].

Tĩn sành từ Phan Thiết

Theo lời một nhà sưu tầm gốm sứ được tác giả dẫn, khoảng đầu những năm 1960 ở xã Phú Lâm (Bình Thuận) có 5 lò tĩn tư nhân là Minh Thành, Công Minh, Mỹ Lợi, Hiệp Nghĩa và Hiệp Thành [1]. Nghề làm tĩn ở đây có từ thời Pháp thuộc; trước khi có hộp thiếc và thủy tinh, đã có gần 2,5 triệu cái tĩn dùng chứa cá mòi và nước mắm từ Phan Thiết đi khắp nơi [1]. Địa danh Bến Tĩn trên sông Bến Nghé (Sài Gòn) là nơi tiếp nhận tàu chở tĩn mắm từ Phan Thiết và Phú Quốc, đồng thời là bãi chứa tĩn thu mua lại sau khi dùng hết [1]. Cha tác giả kể tĩn cá mòi hấp, nước mắm Phan Thiết hồi đó đi khắp Đông Dương bằng xe lửa, xe ngựa, ghe thuyền; đến đầu những năm 1960, cá mòi chuyển sang đóng hộp thiếc, nước mắm đóng thùng thiếc vuông hoặc chai thủy tinh [1].

Mấy chiếc tĩn cũ tác giả tìm được ở làng đều làm bằng tay: cái thô ráp, cái mịn; cái men kín bên ngoài, cái chỉ vài vệt men loang [1]. Tác giả dẫn tiểu thuyết “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác, đoạn tả hai cái tĩn nước mắm ở miền tây Bình Định thời kháng chiến chống Pháp: tĩn vạch chữ thập vôi trắng và tĩn vạch vòng tròn để phân biệt loại nước mắm, nắp tĩn trét vôi, phải lấy mũi dao nạy ra [1].

Tĩn trong bếp quê Quảng Nam

Theo tác giả, tĩn đến mỗi vùng lại có chỗ dùng riêng: người Nam Bộ dùng đi lấy nước sông rạch, người miền biển Bình Định dùng đựng nước mắm nhỉ đưa lên vùng núi [1]. Ở Quảng Nam, “có lẽ là thị trường nhỏ”, tĩn được dùng làm hũ đựng muối, mắm, muối dưa cải, hoặc đựng hạt giống trộn với lá thầu đâu để chống côn trùng [1]. Trong nhà tác giả, mẹ còn dùng tĩn đặt trên chồ bếp để cất mấy bát đường dành cho con [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Bài báo không cho biết tĩn dùng ở Quảng Nam chủ yếu đến từ lò nào, hay có lò trong vùng làm tĩn [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Thông tin về các lò chum sành hơn 300 năm ở Nghệ An phát hiện năm 1961 là lời tác giả “nghe nói”, chưa rõ tài liệu gốc [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Chum, tĩn của một thời”, 19/03/2017, https://baodanang.vn/chum-tin-cua-mot-thoi-3028444.html, truy cập 24/10/2026.