Văn hoá

Nghệ thuật đấu chiêng và trống chiêng của người Co ở Bắc Trà My

Trong một cuộc đấu chiêng của người Co ở Trà My (còn viết là Cor), ba người đàn ông bước ra khoảng sân: hai người cầm chiêng đứng đối diện nhau, người thứ ba vỗ trống vừa dẫn nhịp vừa làm trọng tài [1][2]. Khi người đánh trước hoặc người đánh sau lệch nhịp trống hay hụt giai điệu, cuộc phân tài cao thấp mới dừng lại [1].

Bộ nhạc cụ chiêng đôi và trống

Theo chuyên đề của Báo Nhân Dân, bộ nhạc cụ dùng trong lễ hội của người Co thường gồm hai chiếc chiêng và một chiếc trống [1]. Trong tiếng Co, chiếc chiêng lớn gọi là `Pô` (chiêng đực), chiếc chiêng nhỏ hơn đặt vừa lọt lòng chiếc lớn gọi là `Pi` (chiêng cái), còn chiếc trống gọi là `Agor` [1].

Các bài chiêng truyền thống của người Co gồm bốn bài chính: chiêng chào khách, chiêng tiễn khách, chiêng hội và chiêng cúng thần linh, mỗi bài có nhịp đánh và âm điệu riêng [1]. Từ hai bài chiêng chào khách và chiêng tiễn khách dùng trong lễ ăn trâu, người Co phát triển thành bài đấu chiêng có tiết tấu nhanh, dồn dập và cho phép người chơi ngẫu hứng [1]. Ngoài các nghi lễ, tiếng chiêng trong đời sống bản làng còn được dùng để xua đuổi chim thú, bảo vệ nương rẫy [1].

Luật chơi và kỹ thuật đấu chiêng đôi

Đấu chiêng dành cho những người đàn ông có sức khỏe, dẻo dai và thông thuộc bài chiêng [1]. Mỗi trận đấu có ba người tham gia: một người cầm chiêng chồng, một người cầm chiêng vợ và một người giữ nhịp bằng trống [1][2]. Cuộc đấu mở màn bằng tiếng trống của trọng tài; ngay sau đó, người đánh chiêng trước (gọi là `tok`) phải gõ chiêng bám sát nhịp trống, còn người đánh sau (gọi là `tuk`) đánh đáp trả người đi trước nhưng vẫn phải giữ đúng nhịp trống [1].

Trong lối đánh đối đáp này, chiêng chồng thường xướng trước để chiêng vợ họa theo, rồi chiêng vợ lại xướng cho chiêng chồng họa, tốc độ lúc khoan thai, lúc dồn dập [1][2]. Theo Báo Nhân Dân, người đánh chiêng chồng dùng dùi tre đập dập ở đầu dùi và không bịt âm để tiếng đồng ngân tự nhiên; người đánh chiêng vợ dùng tay mềm bịt âm kết hợp kỹ thuật ngắt tiếng để tạo âm sắc đối ứng với chiêng chồng [1].

Khi so tài, hai người chơi đứng đối diện nhau giữa sân, một tay nâng chiêng, một tay cầm dùi gõ [1][2]. Họ vừa đánh các bài chiêng chào khách, tiễn khách, chiêng hội, chiêng cúng thần linh vừa di chuyển theo nhịp trống: lúc tiến, lúc lùi, ngồi xuống, đứng lên, lắc hông hoặc ngoắc chân vào nhau như động tác đấu võ [1]. Người vỗ trống điều khiển nhịp độ để người xem nhận ra bên nào đánh vững hơn; ai sai nhịp trống hoặc đuối giai điệu trước là người thua cuộc [1].

Theo nghệ nhân Dương Lai (già làng người Co ở xã Trà Liên) và tư liệu của Báo Nhân Dân, cuộc đấu chiêng là dịp để trai làng chứng tỏ sức vóc và khả năng gánh vác công việc chung của làng, đồng thời là dịp để các cô gái người Co chọn bạn đời [1][2].

Không gian lễ hội và múa Kđáo ở vùng Trà My

Tại vùng núi phía tây nam Đà Nẵng hiện nay, người Co cư trú đông nhất ở xã Trà Liên (trước 7/2025 thuộc huyện Bắc Trà My), chiếm hơn 49% dân số của xã và tập trung tại các thôn Tăk Kót, Tăk Ngưi, Tăk Nú, Làng Gạch [2]. Ngoài ra, cộng đồng người Co còn sinh sống tại các địa phương lân cận như xã Thạnh Bình, xã Đức Phú, xã Trà Giáp và xã Tam Mỹ [2].

Trong các dịp lễ của người Co, bên cạnh màn đấu chiêng của nam giới còn có điệu múa `Kđáo` của nữ giới theo nhịp trống chiêng – một điệu múa có động tác mềm mại, khác với điệu tâng tung, da dá của người Cơ Tu [2]. Theo nghệ nhân Dương Lai, điệu Kđáo tái hiện các mùa vụ `Pốt Tamoi`, `Aduốt`, `Pốt Ố` mừng thần lúa về, thường được trình diễn trong lễ ăn mừng lúa mới (`xa pa nưu`), lễ mừng nhà mới (`xa như nưu`), lễ ăn trâu huê (`xa ố piêu`), tết mùa (`xa aní`) và đám cưới [1][2].

Cuối tháng 5, đầu tháng 6/2026, tại Trường THCS Phương Đông (xã Trà Liên), Bảo tàng Đà Nẵng phối hợp với UBND xã Trà Liên và Thư viện Đà Nẵng tổ chức trưng bày chuyên đề “Không gian văn hóa người Co – Di sản sống giữa đại ngàn” [2]. Sự kiện giới thiệu hơn 70 bức ảnh tư liệu, hơn 20 hiện vật (chiêng, ché, gùi, thổ cẩm, đàn sáo, nông cụ) cùng phần trình diễn trực tiếp đấu chiêng đôi, múa Kđáo và đan lát của các nghệ nhân địa phương [2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Tương quan kích thước và cao độ giữa chiêng chồng và chiêng vợ: Báo Nhân Dân ghi chiêng lớn là `Pô` (chiêng đực) và chiêng nhỏ đặt lọt lòng chiếc lớn là `Pi` (chiêng cái) [1], trong khi bài viết năm 2026 trên Báo Đà Nẵng mô tả chiêng vợ có âm trầm, dày làm nền còn chiêng chồng có âm cao hơn để đối đáp [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm cụ thể Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh Nghệ thuật cồng chiêng của dân tộc Cor vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và phạm vi tỉnh, thành trong hồ sơ ghi danh không được hai nguồn nêu chi tiết [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Nhân Dân, “Độc đáo nghệ thuật cồng chiêng của dân tộc Cor”, 7/12/2022, https://nhandan.vn/special/nghethuatcongchieng/index.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Alăng Ngước, “Đánh thức hồn di sản văn hóa người Co”, Báo Đà Nẵng, 8/6/2026, https://baodanang.vn/danh-thuc-hon-di-san-van-hoa-nguoi-co-3339720.html, truy cập 23/10/2026.