Khảo sát hệ thống văn bia trên mồ mả cổ ở khu vực phía nam xứ Quảng giúp phục dựng nhiều dấu tích khai khẩn và phong tục của tiền nhân [1]. Vào mùa Chạp mả từ ngày 20 tháng 11 đến 20 tháng 12 âm lịch hàng năm, việc thăm viếng và tu bổ mồ mả là sinh hoạt gia tộc quen thuộc của cư dân địa phương [2]. Các tấm bia bằng đá sa thạch hay mộ vôi bồ ghè tại đây lưu giữ nhiều quy ước chặt chẽ về quốc hiệu, dòng họ, địa danh và phong thủy [1][2].
Quốc hiệu và các dạng hiệu bia
Trên trán các tấm bia mộ cổ thời phong kiến ở vùng đất này thường khắc các hiệu bia gắn liền với quốc hiệu [2]. Dân gian dùng quốc hiệu để chỉ rõ người đã khuất là người Việt, đồng thời phản ánh niên đại lập mộ [2]. Hiệu “Việt Cố” xuất hiện trên các bia tạo lập từ thời Gia Long (1802 – 1820) trở về trước [2]. Hiệu “Nam Cố” được sử dụng phổ biến trong giai đoạn trị vì của vua Minh Mạng và Thiệu Trị (1820 – 1848) [2]. Dưới thời vua Tự Đức (1848 – 1885), người dân dùng song song hai hiệu “Nam Cố” và “Đại Nam”, trước khi hiệu “Đại Nam” trở nên thông dụng từ giữa thời Tự Đức về sau [2].
Bên cạnh đó, các đại quan phục vụ triều đình nhà Nguyễn thường mang bia hiệu “Hoàng Việt” hoặc ghi dòng “Hoàng Nam cáo thụ”, như khu mộ của vợ chồng Đô thống chế Trần Đăng Long ở khu vực Chợ Trạm thuộc Núi Thành cũ [2]. Đáng chú ý, một số tấm bia ghi hiệu gắn với gốc tích quê quán hoặc hộ tịch như hiệu “Tống Sơn” dành cho thân tộc nhà Nguyễn gốc Thanh Hóa, hiệu “Liêm Hộ” cho cư dân thuộc khai thác vàng, hay hiệu “Hà Bạc” cho cư dân miền duyên hải [2].
Cách ghi quận hiệu, quê quán và sơn hướng
Văn bia ở vùng đất này có tập quán ghi tên quận hiệu trước họ của người mất, như Kinh Triệu quận (họ Lê), Trần Lưu quận (họ Nguyễn), Cao Bình quận (họ Phạm), An Định quận (họ Lương) [2]. Người dân địa phương gọi cách ghi này là “quận âm phủ”, với mục đích thuần túy là đối chiếu chính xác họ của người nằm dưới mộ chứ không mang ý nghĩa tổ quận của người Hoa [2].
Thông tin về quê quán trên bia trước năm 1945 thường được viết tắt thành cụm bốn chữ gồm tỉnh, phủ, huyện, làng xã [2]. Điển hình như ký hiệu “Thăng, Hà, Tiên, Ba” chỉ làng Ba Lâm thuộc tổng Tiên Giang, huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa [2]. Cụm “Nam, Hà, Đàn, Xuân” chỉ xã Trường Xuân, tổng Chiên Đàn, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam [2]. Tại khu vực xã Tam Xuân 1 cũ, văn bia thường viết “Nam, Kỳ, Song Phú” để chỉ làng Phú Hưng, tổng Phú Quý, phủ Tam Kỳ [2].
Về phương vị địa lý, văn bia ghi chép rất chi tiết phân châm la bàn phong thủy theo sự kết hợp của 10 thiên can và 12 địa chi [2]. Bia mộ phân định rõ “sơn” (hướng đầu) và “hướng” (hướng chân), kết hợp các yếu tố gò đồi, sông ngòi lân cận như Kỳ sơn, Khương phong, Tiên giang hay Lễ thủy [2]. Việc ghi chép chính xác sơn hướng vào bia đá và gia phả giúp con cháu định vị đúng phần mộ khi tu tảo giữa vùng cát hay sườn đồi dễ xê dịch [2].
Mộ vôi bồ ghè và các văn bia tiền hiền
Tại vùng đất cát ven sông, nhiều ngôi mộ cổ được đắp bằng hợp chất vôi bồ ghè kết hợp từ cát, vôi nung từ vỏ hàu hến và nhớt vỏ cây [1]. Tại khu vực Truông Dài Nhà Núi xứ (trước 7/2025: phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ), nay thuộc phường Hương Trà, có ngôi mộ vôi bồ ghè cổ mang tấm bia sa thạch chạm hoa văn phong cách Champa [1]. Bia khắc chữ nổi ghi hiệu “Việt Cố” vào năm Bính Tuất [1]. Cùng chất liệu vôi bồ ghè này, tại Gò Bảng thuộc thôn Thạnh Hòa (trước 7/2025: xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh), nay thuộc xã Chiên Đàn, còn lưu giữ ngôi mộ sa thạch của bà chính thất một vị quan Câu Kê thời chúa Nguyễn mang hiệu bia “Tống Sơn” lập năm Nhâm Ngọ [1].
Tại làng Bích Ngô (trước 7/2025: xã Tam Xuân 1, huyện Núi Thành), nay thuộc xã Tam Xuân, bia mộ tiền hiền tộc Nguyễn có khắc bài thơ tám câu bằng chữ Nôm [1]. Nội dung bài thơ kể lại việc tổ tiên theo chúa vào khai khẩn ruộng đất, xây dựng đình làng, đào ao đắp đập và đãi cát bòn vàng [1]. Bài minh trên bia còn xác nhận Bích Ngô là tên chữ của thôn Cây Vông thuộc làng Đức Hòa xưa [1].
Cũng trên địa bàn xã Tam Xuân 1 cũ, khu lăng mộ bốn vị tiền hiền các họ Nguyễn, Trần, Lê, Đỗ của làng Phú Hưng táng tại các xứ đất Ba Lay, Trà Phê và Bàu Dũ [1]. Bia mộ của bốn vị tiền hiền này được con cháu khắc lại nguyên văn đạo sắc phong năm Duy Tân thứ 7 (1913), phong tặng danh hiệu “Dực bảo trung hưng linh phù chi thần” để ghi nhớ công lao khai phá vùng hữu ngạn sông Tam Kỳ từ các thời Hồng Đức và Chánh Hòa [1].
Tra cứu liên quan
- Tra thêm: tiền hiền trong văn bia Quảng Nam.
- Địa bàn nhiều lăng mộ cổ: xã Tam Xuân
- Khu vực có mộ vôi bồ ghè Hòa Hương: phường Hương Trà
- Nơi có mộ cổ Câu Kê Gò Bảng: xã Chiên Đàn
- Làng có bia thơ Nôm: làng Bích Ngô
- Đô thị trung tâm: Tam Kỳ
Điều còn chưa rõ
- Năm lập bia chính xác của ngôi mộ hiệu “Việt Cố” năm Bính Tuất (có thể là 1646, 1706 hoặc 1766) và mộ Câu Kê hiệu “Tống Sơn” năm Nhâm Ngọ (khoảng 1642 đến 1762) chưa có căn cứ chốt niên đại [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh tính cụ thể của vị quan Câu Kê có mộ phần người vợ chính thất tại Gò Bảng [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Dấu cũ Tam Kỳ”, 31/05/2009, https://baodanang.vn/dau-cu-tam-ky-3226305.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Quảng Nam, “Mùa Chạp mả kể chuyện bia mộ”, 24/12/2019, https://baodanang.vn/mua-chap-ma-ke-chuyen-bia-mo-3080805.html, truy cập 23/10/2026.