Bên cạnh các bộ gia phả dòng họ, nhiều bia đá cổ ở Quảng Nam lưu giữ nhiều tư liệu về công cuộc khai khẩn và tụ cư của các lớp lưu dân [1]. Những văn khắc này ghi nhận tên tuổi, quê quán và thứ tự của các bậc tiền hiền, hậu hiền trong việc tạo dựng làng xã [1]. Đây là nguồn sử liệu thực địa phản ánh các luồng di dân qua nhiều thời kỳ lịch sử [1].
Dấu tích khai lập làng xã trên bia đá cổ
Theo bài báo trên Báo Quảng Nam năm 2016, hệ thống văn bia tại nhiều địa phương cung cấp thông tin về các đợt di dân đến khai hoang [1]. Bia mộ thủy tổ tộc Trần Văn ở Thanh Châu (Hội An) chép việc ông Cao tổ theo đoàn quân thời Lê Hồng Đức vào Quảng Nam, sau đó ở lại cùng bạn nghề chài lưới khai phá đất bồi lập nên xứ Võng Nhi [1]. Tại huyện Điện Bàn cũ, văn bia ở đình Bất Nhị ghi nhận 9 tộc họ cùng xây dựng địa phận làm thành xã Bất Nhị, mở rộng đất đai và phát triển thành ba thôn Thai La, Đan Điền, Bình Trị [1].
Một văn khắc khác là bia Trùng tu Thánh tự bi ở xã Lỗ Giản chép rằng 5 tộc họ tiền hiền gồm Dương, Hồ, Lê, Nguyễn, Phạm vốn từ phương Bắc theo nhà vua vào phương Nam lập nên làng xã [1]. Tại Thanh Châu, bia miếu mộ tộc Lê cũng ghi việc vào thời Gia Long, tiền nhân tộc này được ghi tên tại Châu bộ là những người có công khai khẩn kiện canh 5 xứ đất [1].
Ký ức mở đất ở Cẩm Phô và Lang Châu
Tại Cẩm Phô (trước 7/2025: phường Cẩm Phô, thành phố Hội An), nay thuộc phường Hội An, bia mộ chí tiền hiền Lê công chép lại việc ngài theo đức Gia Dũ hoàng đế vào Thuận Quảng cùng các vị họ Trần, Huỳnh, Nguyễn khai khẩn mấy trăm mẫu ruộng để lập nên làng [1]. Tấm bia tộc Trần ở Cẩm Phô cho biết thêm thủy tổ thụy Cần Thận công, nguyên giữ chức Phó đề lãnh Thiêm Lộc hầu, từ Thanh Hóa vào chọn đất; đến niên hiệu Cảnh Hưng thời vua Lê Hiển Tông, các vị tiên hiền họ Hoàng, Lê, Nguyễn tiếp tục khai khẩn lập nên địa giới [1]. Khi dựng bia, dòng dõi họ Trần đã truyền được 14 đời sau khoảng 200 năm [1].
Tại huyện Duy Xuyên cũ, văn bia họ Trương Đức và họ Lê ở làng Lang Châu (xem bài làng cổ Lang Châu) ghi lại dấu tích định cư từ thời nhà Trần [1]. Bia họ Trương Đức chép ngài Trương quý công từ miền Bắc di cư vào khai thác đất lập nên thôn Nam Cương, sau đổi thành thôn Lang Châu [1]. Bia công đức họ Lê tại cùng địa bàn ghi nhớ việc vị tiền nhân họ Lê đến đất phương Nam sinh sống được Trương quý công tận tình giúp đỡ như anh em ruột [1].
Khái niệm tiền hiền, hậu hiền và văn bia Bàn Thạch
Theo bài báo năm 2016, sau khi ổn định đời sống qua nhiều thế hệ, các làng xã tiến hành xác lập việc tôn thờ tiền hiền và hậu hiền [1]. Tiền hiền là những người có công đầu trong việc khai phá đất đai, sáng lập làng ấp; hậu hiền là những người có công tiếp nối khai phá và phát triển làng xã sau đó [1]. Tộc họ tiền hiền nhận được sự kính trọng đặc biệt của dân làng, tộc họ hậu hiền cũng được trọng nể [1]. Các vị tiền hiền của làng còn được triều đình nhà Nguyễn ban sắc phong, con cháu duy trì lệ tế qua nghi thức giỗ tiền hiền xứ Quảng [1].
Văn bia tiền hiền hậu hiền của Đông giáp xã Bàn Thạch (huyện Duy Xuyên cũ) phân định danh sách rất chi tiết [1]. Tiền hiền làng gồm 5 phái tộc Nguyễn Tấn, 3 phái tộc Võ Đức, 4 phái tộc Lê Công, 3 phái tộc Phan Viết; còn hậu hiền gồm các phái thuộc 11 dòng họ khác nhau như Võ, Đỗ, Trần, Nguyễn, Vương, Huỳnh, Lê, Lương, Mai, Diệp, Phan [1]. Bia Trùng tu từ đường bi cũng liệt kê 6 tộc tiền hiền gồm Nguyễn, Thân, Đỗ, Thái, Trần, Ngô theo trật tự cố định [1].
Các luồng di dân và quê quán lưu dân
Các cứ liệu văn bia chỉ ra rằng các đợt di dân đến vùng đất Quảng Nam kéo dài qua nhiều triều đại, gắn với các chính sách lớn của nhà nước phong kiến thời nhà Trần, thời vua Lê Thánh Tông và thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng [1]. Ngoài cư dân người Việt từ miền Bắc, văn bia và lịch sử làng xã còn ghi nhận sự góp mặt của người Hoa lánh nạn cùng tham gia tụ cư khai khẩn [1].
Văn bia cũng ghi lại bản quán gốc gác của các dòng họ khai phá đất Quảng, phần lớn xuất phát từ các vùng Thanh Hóa, Nghệ An, Hoan Châu (Hà Tĩnh) và Hải Dương [1]. Về bia mộ ở phía nam, xem thêm bia mộ xưa nam Quảng Nam.
Tra cứu liên quan
- Tra thêm: tiền hiền trong văn bản làng xã, gia phả.
- Tra thêm: bia trùng tu đình châu La Tháp, làng Bàn Thạch và khoa thi năm 1847.
- Nghi thức tế tự: giỗ tiền hiền xứ Quảng
- Di tích mộ bia cổ: bia mộ xưa nam Quảng Nam
- Di tích tại Cẩm Phô: Văn Thánh miếu Cẩm Phô
- Làng cổ xứ Quảng: làng cổ Lang Châu
- Đô thị di sản: phố cổ Hội An, phường Hội An
Điều còn chưa rõ
- Vị trí hiện nay của làng Lỗ Giản và xã Bàn Thạch theo đơn vị hành chính sau sáp nhập chưa được bài báo năm 2016 nêu cụ thể [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại tạo lập chính xác của các văn bia tại đình Bất Nhị và bia Trùng tu Thánh tự ở Lỗ Giản chưa được khảo cứu đầy đủ về năm lập bia [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh sách đầy đủ các vị tiền hiền thuộc các dòng họ tại các văn bia khác như Quế Trạch xã bi hay Đế Võng xã bi chưa có bản dịch toàn văn [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Dấu tích tiền hiền Quảng Nam trong bia đá”, 30/01/2016, https://baodanang.vn/dau-tich-tien-hien-quang-nam-trong-bia-da-3028882.html, truy cập 23/10/2026.