Văn hoá

Tiền hiền khai canh trong văn bản làng xã xứ Quảng

Văn bản làng xã và gia phả dòng họ tại xứ Quảng lưu giữ nhiều ghi chép về các bậc tiền hiền khai canh lập làng [1]. Những tư liệu Hán Nôm từ thời Lê sơ, thời chúa Nguyễn đến thời Tây Sơn và thời Nguyễn phản ánh quá trình quy tụ dân cư, phân chia ruộng đất cùng quy chế tế tự tại các địa phương [1].

Ghi chép về tiền hiền lập làng tại Câu Nhi và Quảng Đại

Theo bài báo dẫn, làng Câu Nhi (Điện Bàn) lưu giữ văn bản lập năm Duy Tân 2 (1908) [1]. Tài liệu này cho biết tiền nhân họ Thân đến từ châu Ái vào thời nhà Hồ khi thu phục vùng đất mới và đã lập xã hiệu, nhưng do tình hình căng thẳng nên ngài trở về quê cũ [1]. Đến cuối năm 1470, thủy tổ Thân Phúc Cẩm tham gia quân vụ nam chinh [1]. Sau khi chiến sự kết thúc vào năm 1471, ngài hưởng ứng chủ trương của triều đình khuyến khích người ở lại mở mang làng xóm [1]. Sáu cha con họ Thân cùng các vị đại diện họ Nguyễn, Đỗ, Trà, Trần, Kế và Ngô ở lại định cư, lập nên xã hiệu Câu Nhi sau 3 năm [1].

Tại làng Quảng Đại (Đại Lộc), văn bản về ngài khai canh họ Nguyễn lập thời Cảnh Trị (1664) ghi nhận thủy tổ Nguyễn Văn Thiết quê ở xã Khuông Phụ (Hải Dương), từng theo vua Lê Thánh Tông nam chinh [1]. Sau chiến sự, ngài tình nguyện ở lại cùng Nguyễn Viết Lợi và Lê Nhân đến vùng đất Quảng Đại dựng miếu vũ, định cư, bỏ tiền mộ dân khai phá đất hoang để lập làng [1]. Xem thêm lịch sử công trình thờ tự tại đình làng Quảng Đại.

Lệ ruộng tự điền và xử phạt tại làng Quảng Đại

Theo bài báo dẫn, vào năm Đồng Khánh 3 (1887), làng Quảng Đại đồng thuận thiết đặt Tiền hiền tự điền để ghi nhớ công lao mở đất và tu chỉnh sổ đinh, sổ điền [1]. Đến cuối thế kỷ 19, làng ban hành quy định phụng thờ chung, trích lập 4 mẫu ruộng tự điền để hằng năm hội tế Tiền hiền và Hậu hiền vào tiết Thanh minh tháng 3 [1].

Quy định này phân chia 4 mẫu ruộng cho con cháu của 7 tộc họ canh tác, gồm các họ Nguyễn Văn, Lê Văn, Nguyễn Đăng, Trần Văn, Nguyễn Chính, Lê Phúc và Lê Quốc, với diện tích giao mỗi họ từ 2 sào đến 1 mẫu 2 sào [1]. Trong năm, người đảm nhận việc hương chức được xét theo họ lớn hay nhỏ mà chia diện tích ruộng nhiều hay ít [1]. Trước ngày kỵ 10 ngày vào tiết Thanh minh, người canh tác phải chuẩn bị nộp trước 30 quan tiền cho mỗi mẫu ruộng để sắm lễ vật [1]. Trường hợp người nhận ruộng tự điền đem cho người khác thuê mà nộp tiền trễ hạn sẽ bị phạt một con heo và một mâm cau trầu rượu để dùng vào việc cúng tế [1].

Tư liệu tại Trường An, Lộc Trường và lệ tế Cẩm Phô

Văn bản “Cung lục truy ân” lập thời Tự Đức (1861) của họ Trần tại thôn Trường An (Điện Bàn) ghi nhận công lao mở đất lập làng ở xứ nguồn Ô Da của ngài thủy tổ đến từ xã Khuông Phụ (Nghệ An) vào năm Nhâm Thìn (1712) [1]. Tại xã Lộc Trường (Đại Lộc), gia phả họ Nguyễn ghi chép thủy tổ Nguyễn Đức Chương quê ở xã Phù Hoa (Nghệ An), di chuyển đến xã Đơn Uyên (Quảng Ngãi) rồi ra vùng Trà Kiệu [1]. Một người con của ngài là Nguyễn Đức Hầu đã lên vùng nguồn Ô Da để khai phá Trường An [1]. Tờ đơn lập năm Tự Đức 6 (1853) xác nhận tằng tổ có công lập sổ bạ nên được đưa vào thờ phụng ở ngôi tiền hiền khi làng tổ chức lễ nghi [1].

Tại xã Cẩm Phô, một tờ khai đất đai thời Tây Sơn năm Thái Đức (1785) ghi nhận vùng đất này trước đó thuộc nội phủ để phủ chúa thu thuế [1]. Theo bài báo, một văn bản về việc tế Khai cơ và Tiên hiền thời Gia Long (1809) cho thấy lễ tế tiền hiền ở làng quê Quảng Nam sớm thành đại lễ, phải dùng heo, bò, trâu theo lệ tam sanh [1]. Bài báo dẫn lệ tế Xuân Thu do làng họp định: ngày 14/8 làm lễ cáo tại đình với kim ngân, tiền giấy, hương đèn và cung nghinh tiên vị của vị lập miếu họ Hoàng [1]. Lễ chính tế tiền hiền diễn ra vào ngày 15/8 và ngày 16/2, dùng trâu, bò, heo hạng nhất [1]. Các phong tục cúng tế tương tự được mô tả chi tiết tại giỗ tiền hiền xứ Quảng.

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Nguồn trích dẫn xuất hiện hai địa danh “xã Khuông Phụ” ở hai tỉnh khác nhau: Hải Dương trong tư liệu làng Quảng Đại và Nghệ An trong tư liệu họ Trần ở Trường An [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Danh tính cụ thể của vị thủy tổ họ Hoàng lập miếu tại Cẩm Phô chưa được bài báo ghi rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Năm sinh và năm mất của các vị thủy tổ Thân Phúc Cẩm, Nguyễn Văn Thiết không được nêu rõ trong bài báo [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Đạo nghĩa tiền hiền xứ Quảng”, 23/01/2023, https://baodanang.vn/dao-nghia-tien-hien-xu-quang-3026744.html, truy cập 24/10/2026.