Địa danh

Làng Mỹ Thị: Đất xưa bên hữu ngạn sông Hàn

Sông Hàn và cầu Rồng nhìn từ trên cao
Sông Hàn và cầu Rồng nhìn từ trên cao. Ảnh minh hoạ: Person-with-No Name, CC BY 2.0, Wikimedia Commons.

Làng Mỹ Thị là một làng cổ nằm bên hữu ngạn sông Hàn, nay không còn là đơn vị hành chính độc lập mà thuộc nhóm địa danh đã biến mất [1]. Phần đất phía nam của làng sáp nhập với làng Khuê Bắc để thành lập phường Khuê Mỹ, còn phần đất phía bắc sáp nhập với thôn An Thượng của làng An Hải lập nên phường Mỹ An (trước 7/2025: quận Ngũ Hành Sơn; nay đều thuộc phường Ngũ Hành Sơn) [1].

Vị trí và ký ức địa danh

Địa thế xưa của làng Mỹ Thị được dân gian truyền tụng qua hai câu thơ: “Ai về Mỹ Thị thì về/ Trước sông, sau biển, rừng kề một bên” [1]. Trong lịch sử, làng là một trong 7 xã gồm An Hải, Mỹ Khê, Hóa Khuê, Mỹ Thị, Phước Trường, Tân An và Nam An nằm bên hữu ngạn sông Hàn [1].

Vào ngày 20 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 8 (1827), Khâm sai Thống chế Nguyễn Văn Thoại (tức Thoại Ngọc Hầu, khi đang làm nhiệm vụ bảo hộ nước Cao Miên và trấn thủ đồn Châu Đốc) đã gửi tờ trát cho xã trưởng cùng hào mục xã An Hải [1]. Nội dung trát tán thành việc 7 xã hữu ngạn cùng hợp sức lập chợ để cạnh tranh giao thương với xã Hải Châu ở tả ngạn sông Hàn [1].

Dấu ấn trong cuộc chiến 1858 – 1860

Bộ sử Đại Nam thực lục (tập VII, trang 465 – 466) nhắc đến tên xã Mỹ Thị và đồn Mỹ Thị nhiều lần trong thời kỳ Đà Nẵng chống liên quân Pháp – Tây Ban Nha (1858 – 1860) [1]. Theo sử liệu, quân ta tại đồn Mỹ Thị kiên cường giữ chốt nhưng sau đó quân đối phương đã tràn vào khu vực xã [1]. Trước tình thế đó, tướng Nguyễn Tri Phương đã ra lệnh cho Tổng đốc Nam Ngãi Đào Trí chỉ huy quân lính vượt sông sang đóng giữ địa bàn xã Mỹ Thị [1].

Quan Thị Hiển và 32 mẫu ruộng sâu

Nhân vật có dấu ấn lớn trong việc phát triển làng Mỹ Thị là ông Lê Hữu Khánh, còn có tên là Lê Văn Hiển (sinh năm 1850 tại làng Mỹ Thị, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) [1]. Ông đỗ đạt làm quan trải qua nhiều triều vua từ Tự Đức đến Duy Tân, từng giữ các chức vụ Thị Giảng học sĩ, Thị Độc học sĩ, Quang Lộc Tự khanh và Triều Liệt Đại phu, được người dân đương thời gọi tôn kính là quan Thị Hiển [1]. Ông cũng từng là thầy dạy học của hai vị vua Thành Thái và Duy Tân [1].

Dưới thời Tự Đức, nhận thấy làng Mỹ Thị đông dân nhưng thiếu đất trồng trọt, dân chỉ biết bám biển nên thường xuyên chịu cảnh đói kém vào mùa mưa bão, ông đã dâng sớ tấu trình lên triều đình Huế [1]. Bản sớ nêu rõ hoàn cảnh khốn khó: “Phù cư thủy diện, sanh vô gia cư, tử vô địa táng” (sống trên mặt nước không có nhà cửa, chết không có đất chôn cất) [1].

Sau khi thẩm tra thực tế, triều đình ra chỉ dụ yêu cầu làng Mỹ Khê cắt nhượng 30 mẫu đất cát trắng (bạch sa) và làng An Hải (nay thuộc phường An Hải) cắt 20 mẫu bạch sa giao cho làng Mỹ Thị [1]. Đồng thời, thấy dải đất đầm lầy nhiễm mặn mọc đầy cỏ năng ven làng, quan Thị Hiển đã huy động dân làng đắp một con đê ngăn mặn chạy dài từ đầu làng Khuê Bắc tới cuối làng An Hải [1]. Nhờ con đê này, dân làng khai khẩn được 32 mẫu ruộng sâu để gieo cấy lúa nếp [1]. Triều đình chuẩn thuận cho làng Mỹ Thị thụ hưởng số ruộng này vì đất đai vốn là công thổ của triều đình và nằm trên địa phận của làng [1].

Vụ kiện 32 mẫu ruộng

Việc cấp đất và cải tạo ruộng gặp phải sự chống đối quyết liệt từ dân làng Khuê Bắc kế cận [1]. Cho rằng khu đất đó thuộc quyền quản lý của làng mình, ngày 18 tháng 10 năm Quý Mùi (1883), người dân Khuê Bắc đã đệ đơn kiện và cử hai đại diện sẵn sàng liều chết bảo vệ khiếu kiện [1].

Vụ kiện kéo dài đến năm Mậu Tuất (1898) [1]. Qua các cấp xét xử, triều đình Huế vẫn giữ nguyên phán quyết giao trọn 32 mẫu ruộng cho dân làng Mỹ Thị canh tác [1]. Sự kiện kiện tụng lâu năm này từng được dân gian thời bấy giờ ghi lại qua bài vè truyền miệng kể về nỗi vất vả của việc theo kiện từ mùa mưa nắng đến chi phí tốn kém [1].

Nhờ công lao đem lại ruộng đất và sinh kế cho dân, quan Thị Hiển được tôn xưng làm Hậu hiền làng Mỹ Thị [1]. Hai người con của ông là Lê Châu Hàn (còn gọi Lê Cảnh Hàn, Lê Cảnh Thái) và Lê Châu Nam (Lê Cảnh Vận) về sau tham gia khởi nghĩa Duy Tân năm 1916 cùng các nhân sĩ yêu nước, trở thành những nhân vật nòng cốt chuẩn bị khởi nghĩa tại khu vực Quảng Nam và Đà Nẵng [1].

Trong dân gian vùng hữu ngạn sông Hàn xưa có câu “Nhứt Nguyễn Mỹ Khê, nhì Lê Mỹ Thị” ca ngợi hai dòng họ lớn có nhiều công trạng khai khẩn và giúp đỡ dân làng, xếp tộc Lê của quan Thị Hiển ở vị trí cự tộc tiêu biểu của làng Mỹ Thị [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm mất của quan Thị Hiển Lê Hữu Khánh chưa thấy tư liệu bài báo ghi nhận [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Dấu tích bờ đê ngăn mặn chạy từ làng Khuê Bắc đến làng An Hải hiện đã bị đô thị hóa xóa nhòa, chưa rõ vị trí chính xác trên thực địa [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Vị trí nguyên bản của đồn Mỹ Thị thời kỳ 1858 – 1860 đối chiếu với bản đồ hiện nay [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Chuyện xưa làng Mỹ Thị”, 04/07/2009, https://baodanang.vn/chuyen-xua-lang-my-thi-3226360.html, truy cập 23/10/2026.