Lịch sử

Phạm Phú Thứ và vua Tự Đức: những lần can gián và sự tin dùng nơi triều đình

Trong 37 năm làm quan dưới triều Nguyễn (1844 – 1881), đại thần Phạm Phú Thứ có gần 30 năm làm việc tại kinh đô và gắn bó mật thiết với triều đình vua Tự Đức [1]. Với tính cách cương trực và tinh thần trách nhiệm, ông nhiều lần dâng tấu can ngăn vua, từng chịu cảnh giáng chức làm lính trước khi được trọng dụng trở lại [1]. Nơi an nghỉ của ông hiện là khu di tích mộ Phạm Phú Thứ ở Điện Bàn [1].

Hai lần can gián vua Tự Đức

Theo bài báo của Lê Thí, Phạm Phú Thứ là người hay dâng sớ tấu trình lên vua nhất trong triều [1]. Ông từng có ít nhất hai lần thẳng thắn chỉ trích và khuyên can vua Tự Đức, điều mà bài báo ví như hai lần “vuốt râu hùm” [1].

Lần can gián thứ nhất diễn ra vào năm 1850, khi ông 29 tuổi và đang giữ chức vụ nhỏ ở Tòa Kinh Diên, cơ quan giảng sách cho nhà vua [1]. Thấy vua Tự Đức (khi đó 21 tuổi, mới lên ngôi được 3 năm) có biểu hiện chểnh mảng việc chính sự, ông dâng sớ phê bình [1]. Sách Đại Nam liệt truyện (tập IV, quyển 34) ghi nhận lời lẽ trong sớ “không kiêng kỵ, na ná như tính tình của Thứ” [1]. Trong sớ, ông nêu việc “Lễ đại đình ít thấy ra triều thị, nhạc nội uyển kèn trống suốt cả đêm” [1]. Ông cũng chỉ rõ vua lâu ngày không tới giảng ở nhà Kinh Diên, chốn triều đình lâu không ban hỏi chính sự và thần dân bốn phương cũng ít được thừa chỉ hỏi han [1]. Lời sớ khiến vua Tự Đức tức giận [1]. Bất chấp các quan xin khoan dung cho lời nói ngay, vua quyết định tước hết chức vụ và đày ông đi làm lính trạm tại trạm Thừa Nông ở Huế [1].

Theo chuyện kể lại, mẹ vua là bà Từ Dũ sau đó đã can thiệp [1]. Khi biết chuyện, bà hỏi vua Tự Đức rằng ông dâng sớ can gián có được hưởng bổng lộc gì không và khi bị giáng làm lính có oán thán không [1]. Vua đáp ông không được lợi gì, cũng không tỏ lời than phiền mà mỗi buổi chiều vẫn thả thuyền ngắm cảnh ngâm thơ trên sông [1]. Bà Từ Dũ nghiêm mặt bảo người như vậy đáng trọng, việc dâng sớ là vì thương vua và muốn vua lo việc nước tốt hơn [1]. Nhờ lời khuyên của mẹ, đến năm 1852, vua Tự Đức cho gọi ông về kinh đô, phục lại chức Biên tu, chức vụ ông từng giữ trước đó 8 năm khi mới bước vào hoạn lộ [1].

Lần can gián thứ hai diễn ra vào năm 1866, thời điểm Phạm Phú Thứ đang giữ chức Thự (Quyền) Thượng thư Bộ Hộ [1]. Rút kinh nghiệm từ lần giáng chức trước, ông cùng ba vị đại thần uy tín khác đứng tên chung trong bản tấu, dùng lời lẽ ôn hòa hơn [1]. Bản tấu bày tỏ mong muốn vua cân nhắc việc làm, bỏ bớt những việc tốn kém hư phí để chú tâm chấn chỉnh việc thực tế [1]. Trong sớ có đoạn: “giảm bớt đi chơi, trước làm việc dễ, sau làm việc khó, tu sửa nơi gần rồi đến nơi xa” [1]. Lần này vua Tự Đức không trừng phạt mà nhận trách nhiệm về mình, tự nhận tài mọn và thổ lộ quyết tâm sửa chữa thiếu sót như Đại Nam thực lục ghi lại [1].

Sự tin dùng và đánh giá của vua Tự Đức

Dù trải qua những lần bị bề tôi can gián gay gắt, vua Tự Đức vẫn nhìn nhận Phạm Phú Thứ là người tham bồi lâu năm đáng tin cậy [1]. Phần lớn các kế sách do ông đề xuất đều được nhà vua giao triều đình triển khai thực hiện [1]. Các chủ trương này gồm việc phát triển thủy nông trên sông Vĩnh Điện, củng cố phòng thủ tại cảng Đà Nẵng, thiết lập cảng Hải Phòng và bố trí 4 chức tuyên phủ sứ tại các vùng trọng yếu [1].

Vua Tự Đức cũng chấp thuận ngay những nhân sự do ông tiến cử, chẳng hạn cử Lâm Hữu Chánh làm Tri huyện Kim Thành, bổ nhiệm Nguyễn Dục giữ chức Tế tửu Quốc tử giám, và giao trọng trách cho Ông Ích Khiêm làm Tiễu phủ sứ (chi tiết xem thêm bài Phạm Phú Thứ và Ông Ích Khiêm) [1].

Trong suốt thời gian tại triều, ông nhiều lần được nhà vua ban thưởng sâm, quế, gấm vóc, trà quý, tiền bạc và các bài thơ do chính vua ngự chế [1]. Năm 1864, khi ông đi sứ sang Pháp trở về và dâng lên hai tập sách “Tây hành nhật ký” cùng “Tây phù thi thảo”, vua Tự Đức làm thơ ca ngợi chí khí người đi sứ [1]. Đến năm 1874, khi cử ông làm Tổng đốc Hải Yên, nhà vua tiếp tục tặng bài thơ thất ngôn bát cú ghi nhận đức độ, tài năng và kỳ vọng ông giúp nước tăng nguồn của cải, bình định an ninh vùng biển [1].

Năm 1882, khi Phạm Phú Thứ qua đời, vua Tự Đức ban dụ khen ngợi ông là người không nề hà gian khổ, luôn vâng mệnh đảm đương việc khó [1]. Bản dụ nhắc lại những công lao của ông như trông coi Thương chính ở Hải Dương để lại nề nếp cho đời sau, kinh lý ổn định đời sống lưu dân ở Quảng Yên và tổ chức mở đồn điền tại Nam Sách [1]. Bộ sử Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng dành hơn 10 trang với gần 3.000 chữ để ghi chép cuộc đời và sự nghiệp của ông [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Danh tính cụ thể của ba vị đại thần cùng đứng tên với Phạm Phú Thứ trong bản sớ dâng năm 1866 chưa được bài báo nêu rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Chức vụ cụ thể của Phạm Phú Thứ tại Tòa Kinh Diên năm 1850 trước khi bị giáng làm lính trạm Thừa Nông, nguồn chỉ ghi “chức quan nhỏ” [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Bối cảnh chi tiết và địa điểm trạm Thừa Nông ở Huế thời vua Tự Đức hiện nay thuộc khu vực nào [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Phạm Phú Thứ và vua Tự Đức”, 03/01/2020, https://baodanang.vn/pham-phu-thu-va-vua-tu-duc-3034876.html, truy cập 24/10/2026.