Địa danh

Tên gọi Nại Hiên

Nại Hiên là tên làng ở gần cửa sông Hàn. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, viết năm 1776, đã ghi làng Nại Hiên Đông thuộc tổng Hòa Mỹ, huyện Tân Phước [1]. Làng có hai phần: Nại Hiên Tây ở bờ tây và Nại Hiên Đông ở bờ đông sông Hàn [1].

Nghĩa của chữ

Báo Pháp Luật Việt Nam dựa vào Hán Việt tự điển của Thiều Chửu để giải nghĩa từng chữ. Nại là chịu đựng, ngoài ra còn có nghĩa là xứ làm muối; Hiên là mái hiên; Đông là hướng đông [1]. Từ đó bài báo hiểu Nại Hiên Đông là “tiền đình hướng đông, nhẫn nại chịu đựng mưa sa, gió bão” [1]. Đây là cách giải nghĩa theo mặt chữ, chưa phải kết luận nghiên cứu về nguồn gốc tên làng.

Hai bờ sông

Năm 1744, khi chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, Nại Hiên Đông là một xã thuộc huyện Tân Phước. Sang triều Nguyễn, xã thuộc huyện Hòa Vang [1]. Năm 1888, triều Đồng Khánh phải giao các xã Hải Châu, Phước Ninh, Thạch Thang, Nam Dương và Nại Hiên Tây (phần đất Nại Hiên ở phía tây sông Hàn) cho Pháp để lập nhượng địa Đà Nẵng [1]. Tên Nại Hiên Tây từ đó dần mất. Bên bờ đông, tên Nại Hiên Đông còn là tên phường đến tháng 6/2025.

Đình và mộ cổ

Đình Nại Hiên Đông nằm ở khu phố Nại Thịnh, rộng 1.640 m² [1]. Cạnh đình có ngôi mộ cổ hình yên ngựa của một Thứ đội trưởng họ Phan. Theo cách đọc văn bia của nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo, mộ lập năm 1625 [1]. Mộ đã được công nhận di tích cấp thành phố [1].

Tra cứu liên quan

Tra thêm: đình Nại Hiên Đông.

Phường Sơn Trà, xứ đất cũ Đà Nẵng, Tourane, tên gọi Hòa Vang, bảng tra phường xã Đà Nẵng.

Điều còn chưa rõ

  • Nguồn gốc tên Nại Hiên: chưa thấy nghiên cứu địa danh học nào, ngoài cách giải nghĩa theo mặt chữ [1]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
  • Năm Ất Sửu trên bia mộ là 1625 hay một năm Ất Sửu khác (chu kỳ 60 năm): dựa vào cách đọc của một nhà nghiên cứu [1]. [CẦN KIỂM CHỨNG]

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Pháp Luật Việt Nam, “Kỳ bí Sở Âm linh ở đình Nại Hiên Đông”, 08/6/2021, https://baophapluat.vn/ky-bi-so-am-linh-o-dinh-nai-hien-dong-post397587.html, truy cập 19/10/2026.