Văn hoá

Tục thờ cá Ông ở xứ Quảng

Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An
Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An. Ảnh minh hoạ: Steffen Schmitz, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Người làm nghề biển từ Bắc Trung Bộ đến Nam Bộ xem cá voi, thường gọi là cá Ông, như vị thần bảo hộ tính mạng và tài sản khi đi khơi [1]. Tại xứ Quảng, phong tục này để lại dấu ấn sâu đậm trong nếp sinh hoạt của các làng chài ven biển và hải đảo [1]. Bài báo tập hợp các ghi chép thư tịch, sắc phong triều Nguyễn, danh mục lăng miếu và mô tả nghi lễ liên quan [1].

Tư liệu cổ về cá voi và tục thờ cúng

Theo bài viết của tác giả Phạm Phước Tịnh, tác phẩm Ô Châu cận lục của Dương Văn An ấn hành năm 1555 (bản Trần Đại Vinh hiệu đính và dịch chú, Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2015) ghi lại sự việc vào khoảng niên hiệu Quang Thiệu (1516 – 1522), cá voi lạc vào cửa Việt An ở huyện Võ Xương khi triều rút, dân làng chài bắt được và có người đã lấy xương sườn cá để dựng nhà [1]. Xem thêm sách Ô châu cận lục.

Tư liệu sớm nhất ghi chép về tục thờ cúng cá voi là sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định (bản Phan Đăng dịch và chú giải, Nhà xuất bản Thuận Hóa) [1]. Phần chép về dinh Bình Thuận trong sách mô tả miếu Thần Hải thờ thần Nam Hải cự tộc ngọc lân, bên trong đặt tượng thần bằng đất trang nghiêm, hai bên bày binh khí, chiêng trống, tàn lọng, sau tượng có hòm gỗ màu đỏ [1]. Dân địa phương lấy ngày mùng 2 tháng 2 âm lịch hằng năm dùng lễ tam sinh để tế tự [1]. Ngoài ra, cá Ông và tục thờ này còn được ghi nhận trong Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn và Thối (Thoái) thực ký văn của Trương Quốc Dụng [1].

Về địa bàn Hội An, Đại Nam nhất thống chí (bản dịch của Hoàng Văn Lâu năm 2012) khi miêu tả Hòn Đại Chiêm (núi Chiêm Bất Lao, tức Cù Lao Chàm, thuộc xã Tân Hiệp) ghi nhận trên đảo có đền Ngọc Lân bên cạnh các đền Thành Hoàng, Chúa Lồi, Bạch Mã và Ngũ Hành [1]. Căn cứ vào tư liệu này, tác giả bài báo nhận định ở Cù Lao Chàm đã có nơi thờ cúng cá Ông vào cuối thế kỷ 19 [1].

Sắc phong triều Nguyễn và hệ thống lăng miếu ở Hội An

Dưới thời Nguyễn, các vua ban nhiều mỹ danh phong thần cho cá Ông, như “Nam Hải cự tộc ngọc lân chi thần”, “từ tế chương linh trợ tín trừng trạm Nam Hải cự tộc ngọc lân chi thần”, hay “từ tế chương linh trợ tín trừng trạm dực bảo trung hưng thượng đẳng thần” [1].

Tại Hội An, tập điều tra Quảng Nam xã chí cho thấy nhiều làng biển lưu giữ sắc phong cho cá Ông [1]: – Làng Cẩm Phô (nay thuộc phường Hội An) giữ 2 đạo sắc năm Duy Tân thứ 5 và Khải Định thứ 9 [1]. – Làng Tân Hiệp ở Cù Lao Chàm giữ 2 đạo sắc năm Duy Tân thứ 5 và Khải Định thứ 9 [1]. – Làng Thanh Nam giữ 2 đạo sắc năm Khải Định thứ 2 và Khải Định thứ 9 [1]. – Làng Thanh Đông giữ 8 đạo sắc từ thời Minh Mạng thứ 7 đến thời Khải Định thứ 9 [1]. – Làng Thanh Hà (nay thuộc phường Hội An Tây) lưu giữ 5 đạo sắc thần [1].

Khu vực Hội An có 5 di tích liên quan tục thờ cúng cá Ông được đưa vào danh mục bảo vệ của thành phố, một số điểm xếp hạng di tích cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia: lăng Ông Ngư ở Tân Hiệp, lăng Ông An Bàng ở Cẩm An (trước 7/2025: phường Cẩm An, nay thuộc phường Hội An Tây), lăng Ông ở Cẩm Nam (trước 7/2025: phường Cẩm Nam, nay thuộc phường Hội An), lăng Ông ở Cẩm Thanh và lăng Tiêu Diện ở Cửa Đại (trước 7/2025: xã Cẩm Thanh và phường Cửa Đại, nay thuộc phường Hội An Đông) [1]. Ngoài ra còn một số cơ sở thờ tự chưa nằm trong danh mục bảo vệ như lăng Vạn Thanh Thuận ở Cẩm Nam, lăng Ông Nam Hải ở Cửa Đại và lăng Ông Tân Thành ở Cẩm An [1].

Tục thờ và tập quán an táng cá Ông

Theo tài liệu điều tra của Viện Viễn Đông Bác cổ năm 1939 tại làng Phước Trạch (trước 7/2025: thuộc phường Cửa Đại, nay thuộc phường Hội An Đông), cư dân đi biển tin rằng những lúc gặp sóng to gió lớn hoặc chìm đắm ghe thuyền, người sống sót là nhờ cá Ông đưa vào bờ [1]. Để tỏ lòng biết ơn, mỗi khi cá voi chết dạt vào bờ (dân gian gọi là “lụy”), người phát hiện phải báo cho làng xã đưa xác đi chôn trên bãi cát [1]. Sau một thời gian thịt rữa hết, dân làng làm lễ cất xương rồi đưa vào hòm nhỏ đặt thờ trong lăng [1].

Lăng cá Ông tại làng Phước Trạch được miêu tả có khám thờ, bộ tam sự, 10 hòm gỗ nhỏ chứa xương cốt, 2 ghe nhỏ và 2 hàng đồ lỗ bộ [1]. Làng tổ chức cúng hai dịp chính mỗi năm vào ngày 6 tháng 2 và 6 tháng 8 âm lịch bằng kinh phí do làng và các chủ lái ghe đóng góp [1].

Nghi thức tế lễ theo khảo sát năm 1962

Năm 1962, chương trình nghiên cứu làng xã miền Trung do Viện Hành chính quốc gia phối hợp với Nhóm cố vấn Trường Đại học Bang Michigan thực hiện đã ghi chép chi tiết về tập tục tại làng cá Cẩm An [1]. Trước đây, mỗi thôn ở Cẩm An đều có miếu thờ cá Ông và khu nghĩa địa kế bên để chôn cất cá voi dạt vào [1]. Ngôi miếu lớn nhất nằm ở thôn 3 (làng Phước Trạch), quay mặt ra biển, có mộ lớn trên mặt đất và cổng đá, từng được xây lại vào năm 1958 bằng kinh phí của tổ chức Vạn [1].

Ngư dân tổ chức lễ cúng 2 lần mỗi năm: lễ đầu vào tháng Giêng âm lịch đánh dấu mở mùa đi biển xa bờ, lễ thứ hai vào tháng Bảy hoặc tháng Tám âm lịch khi kết thúc mùa đánh bắt [1]. Cứ mỗi mùa lễ, các thành viên trong Vạn bầu ra ban nghi lễ gồm một chủ tế (chánh bái) và hai phân hiến [1]. Người được chọn làm chủ tế phải là đàn ông có gia đình, tính nết được người dân kính nể, am hiểu lễ nghi và có độ tuổi hợp với năm cử hành; người ly dị hoặc góa vợ không được chọn [1]. Kinh phí tổ chức do các thành viên đóng góp tùy vào kết quả đánh bắt của năm trước; năm có tổ chức hát bội thì chủ tàu lớn đóng 200 đồng, tàu trung bình 150 đồng, tàu nhỏ và ngư dân từ 30 đến 50 đồng [1].

Nghi lễ ngày 21 tháng Giêng âm lịch bắt đầu từ 10 giờ sáng bằng đám rước dọc bờ biển gồm 20 thành viên mặc lễ phục truyền thống cùng chủ tế [1]. Bốn người khiêng kiệu đặt sắc phong, hai người cầm lọng quan, sáu người hòa tấu nhạc cụ cổ truyền và tám người mang cờ [1]. Khoảng 3 giờ chiều, sau khi đám rước xong, lễ cúng được tiến hành tại miếu [1]. Hát bội diễn đến 4 giờ sáng hôm sau, và 10 giờ sáng ngày 22 lại tiếp tục [1]. Ảnh trong bài báo ghi lễ cầu ngư (cúng cá Ông) kèm hát bả trạo ở làng chài Bình Minh (Thăng Bình) và lễ rước thần Nam Hải nhập lăng ở làng chài Tam Hải (Núi Thành) [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Bài báo dẫn Ô châu cận lục ghi niên hiệu Quang Thiệu (1516 – 1522) kèm chú thích “tức niên hiệu vua Lê Chiêu Thống”, trong khi chính sử ghi Quang Thiệu là niên hiệu của vua Lê Chiêu Tông; bài báo chưa giải thích sự chênh lệch này [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Danh mục xếp hạng cụ thể (cấp quốc gia hay cấp tỉnh) của từng công trình trong số 5 lăng miếu cá Ông tại Hội An chưa được bài báo ghi rõ riêng cho từng điểm [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tình trạng lưu giữ hiện tại của các bản sắc phong thần cho cá Ông tại các làng xã Hội An sau chiến tranh chưa được bài báo làm rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Phong tục thờ cúng cá Ông”, 06/09/2020, https://baodanang.vn/phong-tuc-tho-cung-ca-ong-3027382.html, truy cập 24/10/2026.