Văn hoá

Mộ cổ xứ Quảng: dấu khai canh của tiền hiền

Một tấm bia mộ có thể ghi quê quán, dòng tộc, chức vụ và cả quá trình lập làng của người nằm dưới mộ. Ở xứ Quảng, những dấu tích ấy nối kiến trúc mai táng với ký ức về các lớp cư dân đến khai phá vùng đất này [1].

Những ngôi mộ nhiều hình dáng

Hơn 2.000 năm trước, cư dân Sa Huỳnh đã chôn người chết trong quan tài chum. Các khu mộ còn có đồ dùng, công cụ, vũ khí và trang sức tùy táng. Mộ chum hiện được trưng bày tại Bảo tàng Văn hóa Sa Huỳnh và Bảo tàng Đà Nẵng [1].

Ở các thời kỳ sau, mộ cổ của người Việt phản ánh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và quan niệm “sinh ký, tử quy”. Mộ có thể xây bằng gạch, đá ong, sa thạch, phiến thạch, cẩm thạch hoặc hợp chất vôi ghè, còn gọi là tam hợp [1].

Dáng nấm mộ cũng không theo một khuôn duy nhất: có mộ tròn, xoáy trôn ốc, hình hột xoài, chữ nhật, mai rùa, yên ngựa hoặc lá sen úp. Tường bao, tức thành quynh, thường dày một đến hai lớp. Một số khu mộ có bình phong, trụ biểu, nhà bia và họa tiết hoa lá, tứ thời, mai hạc hay tùng điểu [1].

Bia ký kể chuyện lập làng

Minh văn trên bia, đại tự và câu đối cung cấp dấu vết về thân thế người đã khuất. Bia có thể ghi quê quán, thân nhân, chức vụ, niên đại và quốc hiệu bằng chữ Hán – Nôm. Từ các dòng chữ ấy, bài báo lần theo những câu chuyện về tiền hiền, hậu hiền và buổi đầu lập nghiệp [1].

Tại Đà Sơn, bài báo nói làng có gần 700 năm tuổi, ghi nhận mộ tổ tộc Phan và mộ phu nhân ông, công chúa Trần Ngọc Lãng. Theo bài, Phan Công Thiên quê ở Thanh Lam Động, Thanh Hóa, được cử trấn thủ Hóa Châu trong giai đoạn 1346 – 1400 và được vua Trần Dụ Tông ban tước Thuận Quốc công [1]. Bài báo không cho biết địa chỉ hiện hành của mộ; Đà Sơn vì thế được ghi là địa danh cũ, chưa quy đổi sang phường, xã [CẦN KIỂM CHỨNG].

Ở làng Khái Đông, mộ hoàng tôn Lê Tấn Triều gắn với câu chuyện khai mở vùng Ngũ Hành Sơn. Bài báo ghi ông là tiền hiền tộc Lê, quê xã Lỗ Hiền, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, Thanh Hóa, và cùng anh là Lê Tấn Trung phò tá vua Lê Thánh Tông trong cuộc Nam chinh [1].

Vùng Hội An có mộ Lê Duy Trì, con vua Lê Thế Tông, ở giữa đồng lúa Thanh Đông. Bài viết gắn ông với công tích lập làng Thanh Châu [1]. Một bia mộ thủy tổ tộc Trần gần lăng Bà, tại tổ dân phố Võng Nhi, chép việc kế biên năm 1498; theo nội dung bia được bài báo dẫn, Trần Văn Lý theo đoàn quân nam chinh rồi ở lại khai phá, lập làng Võng Nhi với nghề chài lưới [1]. Các trang về phường Hội An, phường Hội An Đông và phường Hội An Tây giúp tra cứu địa danh Hội An hiện nay; nguồn không xác định Thanh Đông và Võng Nhi thuộc đơn vị nào [CẦN KIỂM CHỨNG].

Dấu vết cần được ghi nhận

Hai bia khác kể chuyện dòng họ và nghề nghiệp. Bia tộc Lê ở Xuân Lâm, làng Cẩm Phô, lập năm 1913, kể việc các tộc Lê, Trần, Huỳnh, Nguyễn từ miền Bắc vào lập làng Cẩm Phô. Bia thủy tổ tộc Nguyễn Viết ở làng Để Võng ghi chuyện người quê Nghệ An vào Nam, cải tạo ruộng nước và tập hợp cư dân sống bằng nghề sông nước [1].

Tư liệu báo chí mô tả một di sản đang chịu sức ép: nhiều mộ cổ đã mất hoặc có nguy cơ hư hại do thiếu người chăm nom và đô thị hóa. Bài báo cũng nêu việc sửa chữa sai cách và khó khăn khi nhận diện, đọc chữ cổ có thể làm mai một giá trị tư liệu [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Bài báo không nêu danh mục đầy đủ, niên đại cụ thể và tình trạng hiện nay của các mộ cổ được nhắc đến [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Địa chỉ hành chính hiện nay của Đà Sơn, Khái Đông, Thanh Đông, Võng Nhi, Xuân Lâm và Để Võng chưa được xác định từ nguồn này; tên làng được giữ theo bài báo [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Các thông tin về nhân vật và việc lập làng ở trên được thuật lại theo bài báo; cần đối chiếu văn bia, gia phả hoặc hồ sơ chuyên môn để xác nhận [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Mộ cổ lưu dấu khai canh”, 05/10/2026, https://baodanang.vn/mo-co-luu-dau-khai-canh-3354171.html, truy cập 23/10/2026.