Con người

Các nhà nho xứ Quảng làm thầy dạy hoàng tử triều Nguyễn

Trong 39 khoa thi Hội và thi Đình mở dưới triều Nguyễn từ năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đến năm Khải Định thứ 4 (1919), Quảng Nam có 39 người đỗ đại khoa qua 22 khoa thi, gồm 15 tiến sĩ và 24 phó bảng [1]. Nhiều người trong đội ngũ khoa bảng xứ Quảng tham gia lĩnh vực giáo dục, trong đó có sáu nhà nho trực tiếp làm thầy dạy các hoàng tử mà về sau lên ngôi trị vì là Dục Đức, Kiến Phước, Hàm Nghi và Đồng Khánh [1].

Truyền thống khoa bảng và nghề dạy học xứ Quảng

Các thư tịch cổ từng ghi nhận truyền thống học tập của vùng đất này: sách *Ô châu cận lục* nhận xét “học trò thì chăm học hành”, còn sách *Đại Nam nhất thống chí* chép rằng nhờ núi sông thanh tú nên nhiều người có tư chất thông tuệ, dễ học hành [1]. Dưới triều Nguyễn, xứ Quảng có những người đỗ đầu cả nước như Phạm Như Xương, Phạm Phú Thứ, Huỳnh Thúc Kháng [1]. Vùng đất này cũng gắn với các danh hiệu khoa cử như “Ngũ phụng tề phi” khoa Mậu Tuất (1898) gồm 3 tiến sĩ Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn và 2 phó bảng Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến; “Tứ hổ” khoa Tân Sửu (1901) gồm các phó bảng Phan Châu Trinh, Nguyễn Đình Hiến, Võ Vĩ, Nguyễn Mậu Hoán; hay “Tứ kiệt” về văn chương khoa cử gồm Trần Quý Cáp (thơ), Nguyễn Đình Hiến (phú), Phan Châu Trinh (kinh nghĩa) và Huỳnh Thúc Kháng (cả ba thể loại) [1].

Nhiều nhà nho xứ Quảng giữ trọng trách giáo dục từ quê nhà đến kinh đô: Nguyễn Đức Chánh là thầy dạy Phạm Phú Thứ; Nguyễn Dục mở trường ở quê; Lương Thúc Kỳ mở trường Dục Thanh và làm Giám hiệu [1]. Một số vị làm Giáo thụ như Nguyễn Tường Phổ, Trần Quý Cáp; làm Đốc học như Phạm Như Xương (Đốc học Quảng Trị), Hồ Trung Lượng (Đốc học Bình Định); hoặc giữ chức Tế tửu Quốc tử giám như Nguyễn Dục và Nguyễn Đình Tựu [1].

Sáu nhà nho làm thầy dạy các hoàng tử kế vị

Người lớn tuổi nhất trong sáu vị là Nguyễn Thành Ý (1819 – 1897), sinh tại làng Túy La, cư ngụ ở làng Bất Nhị (trước 7/2025 thuộc xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn; nay thuộc xã Điện Bàn Tây) [1]. Gia đình ông có 5 anh em cùng đỗ đạt nên dân gian đương thời gọi là “Ngũ tử đăng khoa” [1]. Ông đỗ cử nhân khoa Quý Mão (1843) dưới triều Thiệu Trị [1]. Đầu năm 1884, ông chuyển sang làm Thự tả tham tri bộ Công, rồi làm Tổng đốc Thanh Nghệ; khi về lại Huế, ông được thăng Hiệp biện đại học sĩ, Phụ đạo đại thần, dạy hai người con nuôi của vua Tự Đức mà về sau trở thành vua Hàm Nghi và vua Đồng Khánh [1].

Phạm Phú Thứ (bài báo ghi năm sinh – mất là 1820 – 1882), tên lúc nhỏ là Hào, hiệu Trúc Đường, biệt hiệu Giá Viên, sinh ở làng Đông Bàn (trước 7/2025 thuộc xã Điện Trung, thị xã Điện Bàn; nay thuộc xã Gò Nổi) [1]. Ông đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1842 và đỗ đầu kỳ thi Hội năm 1843 [1]. Năm Tự Đức thứ 2 (1849), ông được đưa vào Viện Tập hiền giữ chức Khởi cư chú (thư ký ghi lời nói và hành động của nhà vua) và làm việc tại Tòa Kinh diên (phòng giảng sách của vua) [1]. Về sau, vua Tự Đức đặc cách cử Thượng thư Phạm Phú Thứ làm giáo đạo dạy hoàng tử Ưng Chân [1].

Nguyễn Đình Tựu (1828 – 1888), tự Doãn Ngũ, Vọng Chi, sinh tại làng Hội An (trước 7/2025 thuộc xã Tiên Châu, huyện Tiên Phước; nay thuộc xã Sơn Cẩm Hà) [1]. Ông đỗ cử nhân khoa Tân Dậu (1861) và phó bảng khoa Mậu Thìn (1868) [1]. Năm 1869, vua Tự Đức sung ông làm Giảng tập ở Dục Đức đường để dạy hoàng tử Ưng Chân (sau là vua Dục Đức) [1]. Một thời gian sau, ông tiếp tục làm Giảng tập ở Chánh Mông đường, dạy hoàng tử Ưng Đăng (sau là vua Kiến Phước), kiêm chức Thị giảng học sĩ, hằng tuần giảng sách cho nhà vua [1].

Trần Văn Dư (1839 – 1885), còn gọi là Trần Dư, tự Hoán Nhược, sinh tại làng An Mỹ Tây, huyện Hà Đông xưa (trước 7/2025 thuộc xã Tam An, huyện Phú Ninh; nay thuộc xã Tây Hồ) [1]. Theo bài báo, ông đỗ tú tài năm 19 tuổi, đỗ cử nhân năm 27 tuổi (1868) và đỗ tiến sĩ khoa Ất Hợi (1875) năm 35 tuổi [1]. Năm 1879, ông được thăng Hàn lâm viện Thị độc, sung chức Giảng tập tại Dục Đức đường, dạy hai hoàng tử Ưng Chân và Ưng Kị (tức Ưng Kỷ, sau là vua Đồng Khánh) [1].

Nguyễn Thuật (1842 – 1911), tự Hiếu Sinh, hiệu Hà Đình, quê làng Hà Lam, huyện Lễ Dương xưa (trước 7/2025 là thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình; nay thuộc xã Thăng Bình) [1]. Ông đỗ cử nhân trường Thừa Thiên năm 1867 và phó bảng năm 1868 [1]. Năm 1872, ông được bổ làm Thị lang tại Nội các, đồng thời làm Phụ đạo ở trường Dưỡng Thiện, dạy hoàng tử Ưng Đăng [1].

Người trẻ nhất trong sáu vị là Nguyễn Duy Hiệu (1847 – 1887), hiệu Hữu Thành, quê làng Thanh Hà (trước 7/2025 thuộc phường Cẩm Hà, thành phố Hội An; nay thuộc phường Hội An Tây) [1]. Ông đỗ cử nhân năm 1876 và phó bảng năm 1879 [1]. Năm 1882 dưới triều Tự Đức, ông được sung chức Phụ đạo Giảng tập dạy hoàng tử Ưng Đăng, được phong hàm Hồng lô tự khanh [1].

Đánh giá và đãi ngộ của triều đình trong sử sách

Sách *Đại Nam thực lục* ghi lại lời dụ của vua Tự Đức khi chọn Nguyễn Thuật vào dạy tại nhà Dưỡng Thiện: nhà vua nhận xét Nội các Thị lang Nguyễn Thuật là người thông hiểu và cẩn thận, cho gia hàm Tham tri kiêm việc dạy bảo với mong muốn hoàng tử sớm “có đức tốt, học thông nết thuần” [1].

Bên cạnh sáu vị nêu trên, *Đại Nam thực lục* còn chép việc vua Tự Đức ban đãi ngộ cho Nguyễn Dục, một nhà nho xứ Quảng giữ việc dạy bảo tại nhà Dục Đức [1]. Khi Nguyễn Dục đến tuổi 70 và bị bệnh xin về hưu, nhà vua khen ông nghiêm chính, mọi việc trong ngoài ở nơi học của hoàng tử đều được xem xét sửa sang khiến hoàng trưởng phải kính sợ; vua chuẩn cho ông nghỉ 3 tháng về điều trị, ban 50 lạng bạc và lệnh cho quan tỉnh thường xuyên thăm hỏi rồi tâu lại [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm sinh của Phạm Phú Thứ trong bài báo được ghi là 1820 [1], trong khi nhiều nguồn tư liệu và bài viết khác ghi ông sinh năm 1821 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Ở mục viết về Nguyễn Duy Hiệu (1847 – 1887), bài báo ghi ông “đỗ tú tài năm 1963” [1]; đây nhiều khả năng là lỗi in ấn năm âm lịch hoặc năm dương lịch thế kỷ 19 trong bản báo, cần đối chiếu với tư liệu khoa bảng gốc [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Ở mục viết về Trần Văn Dư (sinh năm 1839), các mốc tuổi và năm thi trong bài báo (27 tuổi đỗ cử nhân năm 1868, 35 tuổi đỗ tiến sĩ năm 1875) chưa khớp nhau về số học [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Người Quảng Nam dạy vua”, 19/11/2016, https://baodanang.vn/nguoi-quang-nam-day-vua-3100883.html, truy cập 23/10/2026.