Vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng là nơi hội tụ của nhiều cộng đồng cư dân và tiếp nhận nhiều lớp trầm tích văn hóa trong tiến trình lịch sử [1]. Hệ thống địa danh nơi đây không chỉ phản ánh ngôn ngữ của người Việt mà còn ghi nhận sự tích hợp của ngôn ngữ các tộc người bản địa và yếu tố ngoại sinh thông qua hệ thống văn tự Hán Việt [1].
Phương thức ký âm địa danh
Theo khảo cứu của Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Thân, địa danh Hán Việt ở khu vực này trước hết được hình thành từ phương thức ký âm [1]. Trong đó có sự ghi nhận ngôn ngữ của các cư dân bản địa trước đây hoặc các cộng đồng phi người Việt đến sau [1]: – Địa danh Cù Lao Chàm được chuyển tự sang chữ Hán thành Cù Lao Chiêm (theo trật tự tiếng Việt), hoặc Chiêm Bất Lao, Tiêm Bất Lao, Tiêm Bút (theo trật tự ngữ pháp chữ Hán) [1]. Trong các dạng này, yếu tố “Cù Lao” và “Bất Lao” dùng để ký âm từ “pulaw” (có nghĩa là hòn đảo), còn “Chiêm” và “Tiêm” dùng để ký âm danh xưng Champa [1]. – Yếu tố “Hàn” trong tên gọi sông Hàn hay cửa Hàn tuy được viết bằng chữ Hán trong nhiều thư tịch cổ, nhưng theo Trần Quốc Vượng được tác giả dẫn lại, từ “Hàn” ở Đà Nẵng, “Hác” ở Quảng Bình và “Hát” ở Hà Nội đều là từ bản địa cổ mang nghĩa là sông, không mang nguồn gốc Hán Việt [1].
Bên cạnh đó, phương thức ký âm chiếm số lượng áp đảo là việc mượn chữ Hán để ghi lại các tên gọi thuần Nôm [1]. Điển hình là từ “Bàu” thường được văn bản chữ Hán ghi thành “Bào”, như địa danh Bàu Nghè chép thành “Bào Nghi”, hay Bàu Tròn được ghi thành “Bào Luân” [1].
Phương thức dịch nghĩa địa danh
Tác giả cho biết phần lớn địa danh Hán Việt tại địa phương được cấu tạo theo con đường dịch nghĩa [1]. Cư dân căn cứ vào đặc điểm thực tế của đối tượng địa lý hoặc dịch trực tiếp các tên Nôm sẵn có sang chữ Hán [1]: – Dịch nghĩa từ các tên gọi Nôm: Ao Nước Nóng dịch thành Thang Trì, Ao Vuông hoặc Hồ Vuông dịch thành Phương Trì, Bến Củi thành Sài Tân, Bến Tre thành Trúc Tân, Bến Ván thành Bản Tân [1]. Tên gọi sông Chợ Củi dịch thành Sài Thị giang, tuyến sông Cổ Cò thành Cảnh Lộ giang, Vũng Thùng dịch thành Trà Úc, Cầu Sen dịch thành Hà Kiều, Chợ Củi thành Sài Thị, Giếng Trống thành Cổ Tỉnh, Hòn Tàu thành Tào Sơn [1]. Các địa danh núi và mỏ khoáng sản cũng được Hán hóa tương tự: núi Lưới Voi thành Tượng Võng, Mỏ Diều thành Diên Chủy, Ông Đá thành Thạch Ông, Mỏ Đá thành Thạch Khoáng, Mỏ Sắt thành Thiết Khoáng, Mỏ Vàng thành Kim Khoáng [1]. – Dịch nghĩa từ ngôn ngữ các tộc người khác: Địa danh Kây Kgé trong tiếng của người Co (nghĩa là núi Răng Cưa) được dịch nghĩa Hán Việt thành Cứ Xỉ; hay kinh đô Simhapura trong tiếng Chăm được chuyển dịch với nghĩa Kinh thành Sư Tử [1].
Hiện tượng biến âm và kỵ húy
Hệ thống địa danh Hán Việt tại vùng đất này còn ghi nhận nhiều diễn biến phức tạp về mặt ngữ âm qua thời gian [1]:
- Hiện tượng cận âm: Tạo ra các biến thể tên gọi song song cho cùng một đối tượng địa lý do quá trình ký âm khác nhau [1]. Chẳng hạn như con sông Vu Gia còn được ghi là Ô Da, Ô Gia (xem thêm sông Vu Gia); dòng sông Cu Đê còn được chép là Câu Đê, Cụ Đê (xem bài sông Cu Đê); tuyến sông Đế Võng còn mang tên Đê Võng, Để Võng; hay Cần Húc đi cùng các dạng Cần Hốc, Cần Hào, Khám Hào [1]. Tác giả nhận xét rất khó để khẳng định chắc chắn âm đọc nào xuất hiện trước, âm nào có sau ở nhóm này [1].
- Hiện tượng biến âm do phát âm địa phương: Các địa danh có yếu tố “Giản” (nghĩa là khe suối) thường bị biến đổi thành “Giáng” hoặc “Gián”, như Lỗ Giản (khe nước mặn) thành Lỗ Giáng, Thạc Giản (khe suối lớn) thành Thạc Gián, Quá Giản (dòng suối vắt qua hai vùng đất) thành Quá Giáng [1]. Ngoài ra, cách phát âm bản địa dần bổ sung thêm phụ âm cuối như Thạch Than (than đá) thành Thạch Thang, Mân Quan (cửa ải của người Mân) thành Mân Quang [1]. Sự thay đổi vần và thanh điệu cũng xuất hiện ở Hà Nhai thành Hà Nha, Nam Ổ chuyển thành Nam Ô, Miêu Bông thành Miếu Bông, hay Bông Miêu thành Bồng Miêu [1]. Trường hợp địa danh Túy Loan vốn bắt nguồn từ tên chữ Thúy Loan (ngọn núi xanh), khi người Pháp ghi thành Tuy Loan thì người Việt đọc lại thành Túy Loan và diễn giải lệch nghĩa thành con chim loan say rượu [1].
- Hiện tượng biến âm do kỵ húy: Dưới thời phong kiến, việc tránh tên húy vua chúa đã làm thay đổi chữ viết và âm đọc của hàng loạt địa danh [1]. Để tránh húy chữ Hoa (tên mẹ vua Thiệu Trị), Hoa Ổ đổi thành Hóa Ổ, Hoa Thử đổi thành Phong Thử [1]. Để tránh tên chúa Nguyễn Phúc Chu, các địa danh có chữ Chu đổi sang đọc thành Châu; tác giả cũng nêu trường hợp chữ Kim đọc thành Cẩm [1]. Nhóm địa danh kỵ húy này giúp giới nghiên cứu xác định rõ bản âm ban đầu phản ánh đúng ý nghĩa đối tượng, trong khi biến âm đời sau thường làm mất nghĩa gốc [1].
- Hiện tượng dị âm: Một địa danh trải qua thời gian dài có thể được gán nhiều tên Hán Việt hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào góc nhìn của người đặt tên [1]. Điển hình là thắng cảnh Hòn Non Nước trong dân gian đã mang hàng loạt danh xưng Hán Việt như Ngũ Hành Sơn (do vua Minh Mạng đặt), Ngũ Chỉ Sơn, Ngũ Uẩn Sơn, Phổ Đà Sơn và núi Cẩm Thạch [1].
Tra cứu liên quan
- Địa danh tự nhiên: Cù Lao Chàm, sông Hàn, sông Cổ Cò, sông Vu Gia, sông Cu Đê, Ngũ Hành Sơn
- Làng xã và di tích: làng Nam Ô
- Nghiên cứu tên gọi: tên gọi Đà Nẵng
Điều còn chưa rõ
- Nguồn gốc ngữ âm và mốc thời gian hình thành sớm muộn của các biến thể cận âm như Ô Da – Ô Gia hay Câu Đê – Cu Đê [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tác giả chưa dẫn cụ thể tác phẩm thư tịch nào của Trần Quốc Vượng bàn về nguồn gốc cổ của từ sông Hàn [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Địa danh Hán Việt ở Quảng Nam – Đà Nẵng”, 16/08/2017, https://baodanang.vn/dia-danh-han-viet-o-quang-nam-da-nang-3028264.html, truy cập 24/10/2026.