Lịch sử

Tu-Bong và Non-Nay: địa danh lạ trên bản đồ, ảnh xưa

Hai địa danh có vẻ xa lạ là “Tu-Bong” và “Non-Nay” từng xuất hiện trên bản đồ và tư liệu ảnh của người Pháp vào thế kỷ XIX [1]. Theo các nhà nghiên cứu được dẫn trong bài báo, đó là cách người Pháp ghi lại tên sông Thu Bồn và pháo đài Đồn Hai ở Đà Nẵng theo âm họ nghe được [1].

Tu-Bong trên bản đồ Camille Paris và các tên của sông Thu Bồn

Trên tấm bản đồ vẽ tuyến đường từ Tourane (Đà Nẵng) đến thánh địa Mỹ Sơn do Camille Paris và cộng sự thực hiện, con sông lớn được ghi chú là “Tu-Bong” [1]. Camille Paris là người phát hiện thánh địa Mỹ Sơn năm 1889 và là tác giả cuốn “Du ký Trung kỳ theo đường cái quan” [1].

Theo tác giả Hứa Xuyên Huỳnh trên Báo Quảng Nam, cái tên “Tu-Bong” hẳn là cách nhà nghiên cứu Pháp ghi chú theo âm đọc của người địa phương đối với sông Thu Bồn [1]. Đối chiếu với bản đồ hiện đại, tác giả nhận thấy nhánh vẽ trên bản đồ nhiều khả năng là nhánh phía nam của sông; còn nhánh phía bắc sau khi tách dòng từ Giao Thủy rồi hợp lưu để tạo nên bãi bồi Gò Nổi không được thể hiện [1].

Dòng sông này từng mang nhiều tên gọi trong lịch sử [1]:

  • Hoài giang / sông Hoài: Sách Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên (thế kỷ IV) viết về phong vật phương Nam có nhắc đến “bãi đất nằm giữa hai con sông Hoài”, theo đoạn mở đầu bút ký “Đứa con phù sa” của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường [1]. Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng hai con sông Hoài chính là hai nhánh Thu Bồn ôm bãi Gò Nổi [1]. Trần Đức Anh Sơn cũng cho rằng Lịch Đạo Nguyên gọi sông này là Hoài giang, từ đó mới có địa danh Hoài phố (tức Hội An) sau này [1].
  • Kraun Simhapura: Thời Champa, dòng sông chảy qua đô thành Trà Kiệu của tiểu quốc Amaravati nên người Chăm gọi là Kraun Simhapura, nghĩa là “sông Đô thành Sư tử” [1].
  • Sông Cái: Khi chảy tới làng Văn Ly thuộc Điện Bàn cũ, sông chia thành nhánh nam mang tên sông Cái và nhánh bắc mang tên Thu Bồn, ôm lấy Gò Nổi rồi nhập lại tại bến Câu Lâu, giang cảng của dinh trấn Thanh Chiêm [1]. Một số tư liệu khác ghi tên sông Cái cho đoạn hạ lưu chảy qua Hội An [1].
  • Giao Xuyên và Giao Thủy: Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn (quê Giao Thủy, tổ tiên theo chúa Nguyễn Hoàng vào nam), vùng ngã ba sông nơi Thu Bồn rẽ nhánh vốn có tên Giao Xuyên, sau mới lấy tên Giao Thủy từ quê cũ Nam Định để đặt [1].

Pháo đài Non-Nay và dấu tích tuyệt tích trên hòn Mồ Côi

Địa danh lạ thứ hai là pháo đài “Non-Nay” xuất hiện trong bức ảnh do Jules Itier chụp năm 1845, được bài báo gọi là bức ảnh đầu tiên của Việt Nam chụp bằng kỹ thuật daguerréotype (ghi hình trên bảng đồng phủ hóa chất, không dùng phim âm bản) [1]. Jules Itier là thành viên phái đoàn Pháp sang ký Hiệp ước Whampoa năm 1844, khi ghé Đà Nẵng năm 1845 đã chụp bức ảnh này và in trong tập hồi ký 3 tập kèm chú thích tiếng Pháp về cảnh pháo đài xứ Đàng Trong [1]. Bức ảnh được chụp khi tàu của Jules Itier bỏ neo ở phía nam hòn Mồ Côi dưới chân pháo đài [1].

Đến tháng 7/1927, nhà nghiên cứu H. Cosserat giới thiệu bức ảnh trên tập san B.A.V.H và khẳng định “Non-Nay” chính là “Đồn Hai”, do Jules Itier nghe phát âm không rõ nên ghi sai [1]. Theo xác nhận của H. Cosserat, từ đầu thế kỷ XX Đồn Hai đã không còn dấu vết trên hòn Mồ Côi; hòn Mồ Côi, được Jules Itier phiên âm là Mo-Koi, về sau cũng biến mất [1].

Trong cuốn “Lịch sử Đà Nẵng 1306 – 1975” (NXB Hồng Đức 2019), nhà nghiên cứu Võ Văn Dật đã phục dựng quá trình biến đổi của khu vực này [1]:

  • Hòn Mồ Côi (Đại Nam nhất thống chí gọi là đảo Cô) nằm không xa bờ ở phía đông nam vịnh Đà Nẵng [1]. Thời Gia Long, nhà vua cho đắp con đường nhỏ nối hòn đảo với đất liền để lính đi lại canh phòng [1].
  • Khi đánh chiếm Đà Nẵng, người Pháp phá bỏ cơ sở cũ để xây pháo đài mới và mở rộng đường nối đảo [1].
  • Đầu thế kỷ XX, hòn Mồ Côi được chọn làm trạm khởi hành của tuyến đường sắt Đà Nẵng – Hội An (hoạt động trong giai đoạn 1905 – 1916) [1].
  • Đến năm 1966, hải quân Hoa Kỳ xây dựng cảng Tiên Sa đã san lấp vịnh nhỏ ngăn cách hòn Mồ Côi với mũi và núi Mỏ Diều (Diên Chủy sơn), khiến hòn đảo này hoàn toàn biến mất khỏi thực địa [1].
  • Về tên gọi Đồn Hai, đây là một trong các pháo đài thuộc hệ thống “Trấn dương thất bảo” do triều Nguyễn dựng quanh vùng núi Mỏ Diều [1]. Khi người Pháp tấn công vào năm 1858, hệ thống 7 pháo đài này chỉ còn lại 4 đồn, trong đó có Đồn Hai [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Vị trí cụ thể của pháo đài Đồn Hai cũ trên nền đất cảng Tiên Sa hiện nay sau khi hòn Mồ Côi bị san lấp [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tên gọi và vị trí cụ thể của 3 đồn còn lại trong 4 đồn của hệ thống Trấn dương thất bảo vào năm 1858 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Bản đồ gốc Tourane – Mỹ Sơn của Camille Paris hiện được lưu trữ tại cơ quan lưu trữ nào [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Địa danh ‘lạ’ trên sách xưa”, 25/07/2021, https://baodanang.vn/dia-danh-la-tren-sach-xua-3067335.html, truy cập 24/10/2026.