Làng cổ Câu Nhi trải ra hai bờ sông Vĩnh Điện, nay còn lại hai thôn Câu Nhi Đông và Câu Nhi Tây thuộc phường An Thắng (trước 7/2025: phường Điện An, thị xã Điện Bàn) [1]. Nơi đây từng được triều Nguyễn chọn đặt trường Đốc Quảng Nam vào năm 1802 và làm điểm đầu nguồn đào sông Vĩnh Điện [1]. Lịch sử của ngôi làng gắn với nhiều dị bản tên gọi trong thư tịch cổ cùng những tranh luận về thời điểm thành lập [1].
Diện mạo và các biến thiên địa giới
Theo bài báo của Lê Thí trên Báo Quảng Nam, làng Câu Nhi trải ra hai bên sông Vĩnh Điện, nay còn dấu tích là hai thôn Câu Nhi Đông và Câu Nhi Tây của phường Điện An cũ, nay thuộc phường An Thắng [1]. Trước đây làng rộng hơn rất nhiều, gồm 7 xóm: Miên La, Đồng Phủ, Hạnh Ba, Thai La, Mục Mã, Nhà Đề và Nhà Bối [1].
Qua thời gian, xóm Nhà Bối và một phần của xóm Mục Mã đã không còn do sạt lở bờ sông [1]. Hai xóm Đồng Phủ và Hạnh Ba về sau sáp nhập vào xã Điện Minh cũ [1].
Các tên gọi trong thư tịch cổ
Trong đời sống dân gian và nhiều tài liệu, làng thường được gọi là Câu Nhi [1]. Câu ca dao quen thuộc ở xứ Quảng chép tên làng thành Câu Nhí: “từ ngày Tây lại cửa Hàn / Đào sông Câu Nhí bòn vàng Bồng Miêu”, do người xưa thêm dấu sắc để hợp thanh vận [1].
Trong Địa bạ Gia Long (soạn khoảng 1812 – 1818), làng được chép là “xã Câu Dy” thuộc tổng An Nhơn Trung, huyện Diên Khánh [1]. Sách ghi rõ tứ cận: phía đông giáp châu Giới Phiên thuộc Phú Châu, các xã Khúc Lũy, La Qua, Uất Lũy thuộc tổng Hạ Nông Trung và xã Bất Nhị thuộc tổng Đa Hòa Trung; phía tây giáp các xã Hạ Nông, Bất Nhị thuộc tổng Đa Hòa Trung, châu Doanh trấn Đông thuộc Phú Châu và xã Bằng An thuộc tổng Hạ Nông Trung; phía nam giáp các xã Hạ Nông, Bất Nhị và xã Bằng An, lấy bờ ruộng làm mốc; phía bắc giáp các xã La Qua, Khúc Lũy, Hạ Nông, Hoa Long, Bất Nhị, châu Đông Bàn, Chu Phong, Liên Trì, Bằng An, lấy bờ ruộng làm mốc [1].
Đến sách Đại Nam nhất thống chí, khi chép việc đặt trường tỉnh Quảng Nam vào năm 1802 ở xã Câu Nhi, các dịch giả ở Viện Sử học chú thêm nguyên bản ghi là Câu Nghê [1]. Tác giả bài báo nhận định các tên Câu Nhí, Câu Dy, Câu Nghê đều là cách viết trại từ Câu Nhi, có thể là từ thuần Nôm ghi bằng chữ Hán đồng âm để chỉ địa danh, vì tra các từ điển Hán – Việt thông thường không thấy tự dạng này [1].
Tên Câu Nhi không xuất hiện trong Ô châu cận lục (1555) và Phủ biên tạp lục (1776) [1]. Sau Địa bạ Gia Long, tên này được xác định trong Đồng Khánh địa dư chí (1887 – 1890) và tập san B.A.V.H thời Khải Định (1917) [1].
Trường Đốc và điểm đầu sông Vĩnh Điện
Năm 1802, vua Gia Long chọn làng Câu Nhi làm nơi xây dựng trường Đốc Quảng Nam, được xem là trường “đại học” đầu tiên của xứ Quảng [1]. Sau đó, vua Minh Mạng chọn làng làm nơi khởi đầu cho việc đào dòng sông Vĩnh Điện [1]. Các sự kiện này đều được ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí và Đại Nam thực lục [1].
Hai quan điểm về niên đại lập làng
Về thời điểm hình thành làng, giới nghiên cứu đưa ra hai luồng ý kiến khác nhau [1]:
- Ý kiến mốc năm 1471: Huỳnh Công Bá trong cuốn sách “Công cuộc khai khẩn và phát triển các làng xã ở Bắc Quảng Nam từ thế kỷ 15 đến giữa thế kỷ 18” cho rằng làng do lưu dân “Bắc địa tùng vương” họ Thân, Nguyễn, Trần, Đỗ… lập từ cuối thế kỷ 15, cùng thời với Cẩm Sa, Bảo An, Nông Sơn, Lỗ Gián [1]. Nguyễn Xuyên trong “Thân tộc với vùng đất Quảng Nam” nêu cụ thể rằng sau cuộc bình Chiêm năm 1471, ngài Thân Phước Cẩm (thụy Minh Đức), tướng tài trong tiền quân của đại tướng Lê Niệm, được lệnh ở lại trấn giữ vùng đất thuộc Điện Bàn cạnh dòng sông Cái [1]. Thủy tổ tộc Thân cùng tiền bối các tộc Nguyễn, Đỗ, Trà, Trần, Ngô đã khai khẩn đất hoang và lập thành xã Câu Nhi sau 3 năm [1].
- Ý kiến mốc khoảng 1558 – 1620: Các nhà nghiên cứu khác nêu băn khoăn vì tên làng không có trong Ô châu cận lục hay Phủ biên tạp lục [1]. Gia phả tộc Thân cho biết tộc này truyền được 16 – 17 đời, gia phả tộc Nguyễn Như (đồng tiền hiền của làng) cũng chỉ mới có 17 đời [1]. Gia phả tộc Nguyễn Như cũng ghi có một số bà từ đời thứ 1 đến đời thứ 5 là người Chiêm [1]. Dựa vào số đời gia phả, một nhà nghiên cứu trong tộc Nguyễn Như suy đoán tổ tiên từ làng Câu Nhi ở phủ Triệu Phong, Quảng Trị vào khai phá trong khoảng 1558 – 1620 (gắn với các mốc chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa năm 1558 hoặc kinh lý Quảng Nam năm 1602) [1]. Theo tác giả, làng Bằng An bên cạnh cũng được lập trong thời điểm này, do tiền hiền Bằng An là ông Nguyễn Như Đệ, em ruột của ông Nguyễn Như Thăng bên Câu Nhi [1]. Về thứ tự tiền hiền, dân gian lưu truyền hai câu “nhứt Thân, nhì Nguyễn, tam Trần, tứ Đỗ” và “nhứt Nguyễn, nhì Thân, tam Trần, tứ Đỗ”, lư hương tiền hiền làng từng được gửi ở nhà thờ tộc Nguyễn Như [1]; xem thêm về tiền hiền khai canh xứ Quảng.
Tra cứu liên quan
- Địa phương: phường An Thắng, làng Thanh Quýt
- Di tích lân cận: tháp Bằng An
- Sông ngòi: sông Vĩnh Điện, sông Thu Bồn
- Văn hóa làng xã: tiền hiền khai canh xứ Quảng
Điều còn chưa rõ
- Niên đại chính xác của thời điểm lập làng: giữa mốc năm 1471 và khoảng năm 1558 – 1620 vẫn là hai quan điểm chưa có kết luận thống nhất [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Dấu tích kiến trúc cụ thể của trường Đốc Quảng Nam xây dựng năm 1802 tại làng Câu Nhi hiện nay [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Vị trí nguyên thủy của đình tiền hiền làng Câu Nhi trước khi bị hư hỏng [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Câu Nhi, ngôi làng xứ Quảng”, 14/12/2019, https://baodanang.vn/cau-nhi-ngoi-lang-xu-quang-3081014.html, truy cập 24/10/2026.