Văn hoá

Sơn Trà trong thơ xưa và thư tịch cổ

Bãi cát và sườn rừng bán đảo Sơn Trà
Bãi cát và sườn rừng bán đảo Sơn Trà. Ảnh minh hoạ: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Sách địa chí triều Nguyễn chép núi trên bán đảo Sơn Trà với tên Trà Sơn, là ngọn núi trấn phía ngoài cửa biển Đà Nẵng [1]. Theo bài “Sơn Trà – tâm sự người xưa” của Nguyễn Dị Cổ, núi còn có mặt trong vè của người đi biển, ca dao đoán thời tiết, tên gọi của thương nhân người Hoa và thơ của nhiều người thời Nguyễn [1].

Núi Trà Sơn trong thư tịch triều Nguyễn

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, tỉnh Quảng Nam có hơn 60 ngọn núi được ghi chép ngắn gọn [1]. Sách Đồng Khánh địa dư chí liệt kê các núi có tên theo từng huyện: huyện Hòa Vang có núi Hải Vân, núi Định Hải, núi Thạch Lĩnh, núi Ngự Đảo; huyện Diên Phước có Ngũ Hành Sơn và núi Trà Sơn; huyện Duy Xuyên và huyện Quế Sơn có núi Tào Sơn; huyện Hà Đông có núi Chủ Sơn [1].

Đoạn chép về Trà Sơn trong Đại Nam nhất thống chí nêu rõ núi nằm cách huyện Diên Phước 32 dặm về phía đông, dáng núi cao vút mây phủ, cây cối rậm rạp và hươu nai đi thành đàn [1]. Người địa phương thường trông núi để chiêm nghiệm thời tiết: vào mùa thu và mùa đông, nếu cầu vồng xuất hiện trước núi thì trời lụt, còn nếu mây đặc phủ trên đỉnh thì trời mưa [1]. Về địa thế, phía đông núi liền biển; phía đông nam có ngọn núi tiếp liền trông xa giống hình sư tử, tục gọi là hòn Nghê, tương truyền ban đêm có ngọc chiếu sáng xuống biển [1]. Phía tây có hòn Mỏ Diều đặt pháo đài Phòng Hải; phía bắc là núi Cổ Ngựa đối nhau với hòn Ngự Hải ở cửa biển; phía tây cửa biển là vũng Trà Sơn [1].

Sách Đồng Khánh địa dư chí ghi nhận núi Trà Sơn nằm trên địa phận các xã Mân Quan, Nam Thọ và Tân An [1]. Thư tịch này miêu tả ngọn núi mọc giữa vùng đất bằng, giữ nhiệm vụ trấn giữ phía ngoài cửa biển Đà Nẵng [1].

Dấu ấn hàng hải dân gian và tên gọi Hiện Cảng

Địa hình Sơn Trà đóng vai trò nhận diện cho tàu thuyền xác định phương hướng, được ghi lại trong tác phẩm dân gian “Vè các lái” [1]. Đoạn vè có câu: “Trước mũi Sơn Trà sau có con Nghê / Vũng Nồm, bãi Bấc dựa kề” [1]. Bài báo giải thích thêm rằng Bãi Chuối và Hang Dơi là hai eo núi trong đèo Hải Vân; Vũng Nồm là vịnh nhỏ phía nam mũi Nghê; Bãi Bấc nằm ở phía bắc Sơn Trà [1].

Kinh nghiệm quan sát mây mưa của người dân cũng được đúc kết qua câu ca dao: “Chiều chiều mây phủ Sơn Trà / Sóng xô Cửa Đại trời đà chuyển mưa” [1]. Bài báo nhận xét câu này giống điều Đại Nam nhất thống chí ghi về mây trên đỉnh núi [1].

Bên cạnh đó, các thương nhân người Hoa và người Minh Hương lánh nạn sang Việt Nam bằng đường biển quan sát ngọn núi có hình dáng giống con hến nên gọi nơi đây là “Hiện Cảng” [1]. Tên gọi Hiện Cảng xuất hiện trên nhiều bài vị trong các hội quán của người Hoa ở Hội An [1]. Về sau, một bộ phận người Hoa đổi sang mặt chữ Hán khác nhưng giữ nguyên cách phát âm để chỉ cảng biển có núi Sơn Trà [1] (tham khảo thêm tại bài viết về tên gọi Sơn Trà).

Thi ca thời Nguyễn và biến cố năm 1858

Sơn Trà nằm ở vị trí thuận lợi cho người đi thuyền hay đi bộ ra vào kinh đô Huế, viếng Ngũ Hành hay buôn bán tại cửa Hàn, phố Hội trông thấy [1]. Do đó, nhiều tác giả thời Nguyễn đã ghi lại cảm xúc khi qua đây, như Phan Thanh Giản, Tùng Thiện Vương, Phạm Phú Thứ, Phạm Văn Nghị, Phạm Vũ Khải và Hà Đình Nguyễn Thuật [1].

Khi đi kinh lý qua vùng biển này, Phan Thanh Giản viết: “Trà Sơn yên ái hợp Tam Thai”, được dịch nghĩa trong bài báo là “Trà Sơn mây vẫn thuận chiều Tam Thai” [1]. Đến cuối thế kỷ 19, Nguyễn Thuật ghi lại cảnh sắc bến thuyền qua câu: “Thập trượng bồ phàm tán mộ yên”, được dịch là “Bãi sông mười trượng, buồm tan khói chiều” [1].

Khi quân Pháp nổ súng tiến công Đà Nẵng mở đầu chiến sự giai đoạn 1858 – 1860, Sơn Trà trở thành nơi bị tấn công đầu tiên [1]. Ngay sau trận nổ súng, Phạm Phú Thứ đã dâng sớ xin vua cho các quan lại người Quảng Nam đang ở kinh đô được về quê chống quân Pháp [1]. Theo bản dịch trong bài báo, thơ Tùng Thiện Vương nói chợ Cẩm Lệ phải dời vào sâu và Trà Sơn nhiều lần là nơi tụ người vây đánh quân Pháp [1]. Phạm Văn Nghị cũng có thơ nhìn về Trà Sơn khi quân Pháp kéo đến; bài báo dẫn câu thơ người khác khích lệ ông lên đường: “Vân, Trà non nọ ghi công lớn / Há chỉ bia đề Văn miếu đâu” [1].

Về sau, khi cuộc chiến dưới thời Nguyễn thất bại, nhà chí sĩ Trần Quý Cáp bộc lộ tâm sự trong bài thơ “Đà Nẵng hoài cảm” [1]. Vụng biển Sơn Trà sau này còn xuất hiện trong câu đối khóc Trần Quý Cáp: “Cửu nguyên di hận Trà Sơn úc”, dịch nghĩa là “Chín suối, biển Trà mang mối hận” [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Ranh giới địa lý và vị trí hành chính hiện nay của các xã Mân Quan, Nam Thọ, Tân An được nhắc trong Đồng Khánh địa dư chí [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Thời điểm ra đời và tác giả nguyên bản của bài “Vè các lái” [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Người làm câu đối khóc Trần Quý Cáp: bài báo ghi là Vũ Duy Thanh, nhưng Trần Quý Cáp mất năm 1908, nên cần đối chiếu xem đây có phải Vũ Duy Thanh đỗ bảng nhãn thời Tự Đức hay một người trùng tên [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Câu “Vân, Trà non nọ ghi công lớn” là của ai: bài báo chỉ nói Phạm Văn Nghị “được mọi người khích lệ” bằng câu này [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Sơn Trà – tâm sự người xưa”, 08/04/2017, https://baodanang.vn/son-tra-tam-su-nguoi-xua-3098453.html, truy cập 27/10/2026.