Lịch sử

Đà Nẵng thời các chúa Nguyễn

Sông Hàn và cầu Rồng nhìn từ trên cao
Sông Hàn và cầu Rồng nhìn từ trên cao. Ảnh minh hoạ: Person-with-No Name, CC BY 2.0, Wikimedia Commons.

Thời các chúa Nguyễn cai quản xứ Đàng Trong, vùng đất Đà Nẵng bước vào những chuyển biến về địa giới hành chính và hoạt động kinh tế biển [1][3]. Khu vực Cửa Hàn nằm ở vị trí kín gió, dần trở thành bến cảng vệ tinh hỗ trợ cho thương cảng quốc tế Hội An [1][2].

Xác lập hành chính và vị trí địa chiến lược

Năm Nhâm Dần 1602, chúa Nguyễn Hoàng vào thăm núi Hải Vân và quan sát địa thế khu vực Cửa Hàn gắn với vịnh Đồng Long [3]. Chúa Nguyễn Hoàng tâm đắc với nhận xét của chúa Trịnh Kiểm rằng đây là chỗ yết hầu của miền Thuận Quảng [3]. Sau chuyến đi thực địa này, chúa Nguyễn Hoàng quyết định đổi trấn Quảng Nam thành dinh Quảng Nam và cử thế tử Nguyễn Phước Nguyên vào làm trấn thủ [3].

Đến năm Giáp Thìn 1604, chúa Nguyễn Hoàng quyết định tách huyện Điện Bàn khỏi phủ Triệu Phong thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ Điện Bàn và chuyển sang trực thuộc dinh Quảng Nam [3]. Địa vực vịnh Cửa Hàn được che chắn tự nhiên bởi rặng Sơn Trà ở phía đông cùng hai khối núi Bà Nà và Hải Vân ở phía tây và tây bắc [1].

Bến cảng vệ tinh của thương cảng Hội An

Dưới thời các chúa Nguyễn, Đàng Trong mở rộng giao thương hàng hải với các nước bên ngoài [2]. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên cho phép thương nhân Nhật Bản và Trung Hoa lập Phố Nhật cùng Phố Khách tại Hội An, trong khi người Hà Lan và Bồ Đào Nha cũng lập thương điếm tại đây [2]. Cùng với hoạt động thương mại của Hội An, dọc bờ biển Đàng Trong hình thành mạng lưới bến cảng vệ tinh như Thanh Hà, Cửa Hàn, Kỳ Hà, Tân Châu, Đề Gi, Nước Mặn và Thị Nại [2].

Trong hệ thống này, Cửa Hàn trở thành tiền cảng và sân sau của Cửa Đại Chiêm cùng Hội An [1][2]. Các sản vật từ đồng bằng và miền núi xứ Quảng được tập kết về bến cảng, trong đó có cây gió trầm mọc ở vùng núi Hòa Vang hay xà cừ khai thác ở vùng biển quanh bán đảo Sơn Trà [2].

Dấu tích cư trú và cơ sở tín ngưỡng

Trước khi phát triển thành bến cảng giao thương, Cửa Hàn ban đầu gồm những làng chài ven chân núi sống bằng nghề biển [1]. Những nhóm lưu dân người Việt đầu tiên vào định cư đã hợp cư hòa bình với cư dân Chăm tại chỗ [1]. Sát chân đèo Hải Vân có ngôi đình và ngôi cổ tự dựng từ thời các lưu dân Việt đầu tiên di cư vào phương Nam, bên trong đình có bức hoành phi khắc hai chữ “Tổ quốc” [1].

Tại khu vực Ngũ Hành Sơn, hệ thống chùa chiền cũng được xây dựng trong thời kỳ các chúa Nguyễn cai quản Đàng Trong [1]. Trên vách đá và văn bia nơi đây còn lưu lại dấu tích công đức của những người đóng góp trùng tu chùa, trong đó có các thương nhân người Nhật từng buôn bán tại Hội An [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm khởi dựng cụ thể của ngôi đình và ngôi cổ tự dưới chân đèo Hải Vân; nguồn chỉ ghi dựng từ thời những lưu dân Việt đầu tiên di cư vào phương Nam [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Thời điểm chính xác hình thành các làng chài sơ khai ven chân núi vịnh Cửa Hàn chưa có năm cụ thể trong nguồn tài liệu [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 11/2026

Nguồn tham khảo

  1. Vũ Ngọc Giao, “Dấu chân lưu dân trên miền sơn thủy”, Báo Đà Nẵng, 07/12/2025, https://baodanang.vn/dau-chan-luu-dan-tren-mien-son-thuy-3313954.html, truy cập 02/11/2026.
  2. Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa Thế giới Hội An, “Nguồn hàng xứ Quảng dưới thời chúa Nguyễn”, 02/07/2018, https://hoianheritage.danang.gov.vn/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/nguon-hang-xu-quang-duoi-thoi-chua-nguyen-711.html, truy cập 02/11/2026.
  3. Bùi Văn Tiếng, “Người Đà Nẵng với những năm Quý Mão trong lịch sử”, Báo Đà Nẵng, 23/01/2023, https://baodanang.vn/nguoi-da-nang-voi-nhung-nam-quy-mao-trong-lich-su-3235332.html, truy cập 02/11/2026.