Con người

Nguyễn Duy Hiệu (1847–1887): thủ lĩnh Nghĩa hội Quảng Nam

Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An
Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An. Ảnh minh hoạ: Steffen Schmitz, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Khi bị tra hỏi ở Huế, Nguyễn Duy Hiệu nhận hết tội về mình: theo hồ sơ di tích, ông khai rằng những người có tên tuổi trong Nghĩa hội đều bị ép theo, “chém một mình Hiệu cũng đủ” [1]. Ông bị hành quyết ngày 1/10/1887, lúc bốn mươi tuổi.

Ông Hường Hiệu

Theo lý lịch di tích do Trung tâm Quản lý Bảo tồn di sản văn hóa Hội An lập, Nguyễn Duy Hiệu là con thứ tư trong mười người con của ông Nguyễn Viết Thiện, một cai tổng, và bà Nguyễn Thị Châu. Cha mất sớm, nhà sa sút, việc học của ông trông vào mẹ [1].

Năm 1876, ở tuổi 29, ông đỗ cử nhân; ba năm sau đỗ phó bảng. Ông ở lại quê dạy học, không ra làm quan, cho tới năm 1882 vua Tự Đức triệu về Huế làm Giảng tập dạy hoàng tử Ưng Đăng, người sau này là vua Kiến Phúc. Hàm Hồng lô tự khanh khiến dân trong vùng gọi ông là ông Hường Hiệu, ông Hường Thanh Hà. Hơn một năm sau, ông lấy cớ nuôi mẹ già mà từ quan [1].

Lãnh đạo Nghĩa hội

Tháng 9/1885, Nghĩa hội Quảng Nam ra đời để hưởng ứng chiếu Cần Vương, do Trần Văn Dư làm hội chủ; Nguyễn Duy Hiệu ở trong nhóm lãnh đạo cùng Phan Bá Phiến và Nguyễn Thành. Tháng 12/1885, Trần Văn Dư thọ nạn, Nguyễn Duy Hiệu được cử làm Hội trưởng [1].

Ông lập Tân tỉnh Trung Lộc ở vùng núi Quế Sơn, tổ chức đủ sáu bộ, nhân danh vua Hàm Nghi phong chức và xử án. Hồ sơ dẫn lời viên công sứ Pháp ở Huế là Baille gọi ông là kẻ “tự xưng là vua thứ hai”. Nghĩa quân đánh theo lối du kích; hồ sơ kể các trận đánh vào tỉnh thành La Qua và Đà Nẵng đầu năm 1886, cùng các trận Bãi Chài và Nam Chơn [1].

Ra hàng để giữ người

Năm 1887, thế Nghĩa hội yếu dần. Nguyễn Duy Hiệu ra lệnh đốt hết sổ sách để bảo vệ người tham gia, rồi giải tán hội. Ông về làng Thanh Hà thăm mẹ, sau đó ra ngôi miếu trên trảng cát của làng và cho người báo để quân Pháp đến bắt. Ông không bị xử tại chỗ mà bị giải về Huế [1].

Sau khi ông bị chém, thủ cấp bị đem về Quảng Nam bêu dọc đường. Ngày 20 tháng 8 năm Đinh Hợi, con cháu đưa về an táng ở quê [1].

Mộ và nơi tưởng niệm

Ngôi mộ được xây lại năm 1967, đại tu năm 1998; khuôn viên rộng khoảng 459 m², cách sông Cổ Cò chừng 200 m. Năm 1995, Hội An dựng khu tưởng niệm rộng gần 1 ha trong nội thành, có tượng đài cao 4,5 m. Mộ nằm trong danh mục di tích được bảo vệ theo Quyết định 1353/QĐ-UB ngày 15/8/1997 của tỉnh Quảng Nam [1].

Theo Nghị quyết 1659, xã Cẩm Hà cũ cùng các phường Thanh Hà, Tân An, Cẩm An nay là phường Hội An Tây [2]. Làng quê ông cũng là làng gốm Thanh Hà.

Điều còn chưa rõ

Bài này dựa chủ yếu vào một hồ sơ di tích; các chi tiết về trận đánh và lời khai cần đối chiếu với sử liệu triều Nguyễn và tư liệu Pháp. Hai bài thơ tuyệt mệnh của ông không được chép ở đây. Tiểu sử Trần Văn Dư, người đứng đầu Nghĩa hội trước ông, chưa có nguồn đủ để viết riêng.

Nguồn tham khảo

  1. Trung tâm Quản lý Bảo tồn di sản văn hóa Hội An, “Lý lịch di tích mộ Nguyễn Duy Hiệu”, https://hoianheritage.net/uploads/download/ly-lich-di-tich-mo-nguyen-duy-hieu-chinh-thuc.pdf, truy cập 12/10/2026.
  2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 1659/NQ-UBTVQH15 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Đà Nẵng năm 2025, 16/6/2025, toàn văn trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-1659-nq-ubtvqh15-sap-xep-cac-dvhc-cap-xa-cua-thanh-pho-da-nang-nam-2025-119250616202714604.htm, truy cập 12/10/2026.