Văn hoá

Ca dao, dân ca giao thoa vùng Nam Ngãi

Nam Ngãi là tên gọi quen thuộc mà người dân miền Trung dùng để chỉ vùng đất gồm hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi [1]. Hai địa phương này chia sẻ không gian văn hóa chung với nhiều điểm tương đồng trong nếp sống, phong tục tập quán và các sáng tác ca dao, dân ca truyền thống [1].

Khái niệm Nam Ngãi và chiều hướng giao thoa

Theo tác giả bài báo, giao thoa văn hóa và ngôn ngữ giữa các địa phương thường diễn ra theo chiều từ Bắc vào Nam theo dòng lịch sử [1]. Tuy nhiên, giữa hai xứ Quảng Nam và Quảng Ngãi, quá trình tương tác này lại diễn ra theo hai chiều xuôi ngược Bắc – Nam [1].

Cụ thể, khu vực từ quốc lộ 1A trở xuống miệt biển có xu hướng giao thoa theo chiều Bắc – Nam thông thường, từ Quảng Nam vào mạn bắc tỉnh Quảng Ngãi [1]. Trái lại, khu vực dân cư sinh sống dọc theo quốc lộ 1A lại ghi nhận chiều giao thoa ngược lại từ phía nam ra bắc, tức từ phía Quảng Ngãi lan tỏa ra vùng đất phía nam Quảng Nam [1].

Lớp phương ngữ hai bên đường ray xe lửa ở Núi Thành

Sự tiếp xúc ngôn ngữ giữa hai vùng bộc lộ rõ nét tại địa bàn tiếp giáp giữa huyện Núi Thành cũ của Quảng Nam và huyện Bình Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi [1]. Tại đây, tuyến đường ray xe lửa trở thành ranh giới phân tách hai vùng tiếng nói của cư dân địa phương [1].

Từ đường ray xe lửa ngược lên phía núi, người dân không sử dụng các đại từ và khẩu ngữ như “mi”, “mô”, “tê”, “răng”, “rứa”, “chừ” [1]. Giọng nói tại vùng này tương đồng với cách phát âm của người Kinh vùng đồng bằng và phía tây Quảng Ngãi, đặc biệt gần gũi với phương ngữ vùng Mộ Đức, Đức Phổ ở cực nam tỉnh Quảng Ngãi khi dùng các từ “tao, mầy, đâu, kia, sao, vậy, giờ” [1].

Trong khi đó, từ đường ray xe lửa xuôi về miệt biển, cư dân nói rặt giọng tiếng Quảng với hệ thống từ vựng quen thuộc như “mi”, “chi”, “mô”, “tê”, “răng”, “rứa”, “ni”, “nớ” [1]. Luồng phương ngữ ven biển này kéo dài xuyên qua ranh giới, vào tận các xã duyên hải phía đông huyện Bình Sơn của Quảng Ngãi [1]. Cư dân ven biển vùng bắc Quảng Ngãi tại đây cũng dùng từ ngữ xứ Quảng thay vì các từ phổ biến như “tao, mầy, gì, đâu, kia, sao vậy, nầy, kia” của phần lớn người Quảng Ngãi [1].

Địa danh nối tiếp trong ca dao và bài hát ru

Nhiều bài ca dao và câu hát dân gian ghi nhận sự trùng khít về địa danh giữa hai địa phương, phản ánh ranh giới địa lý gần gũi giữa huyện Núi Thành cũ (nay thuộc xã Núi Thành và các xã kế cận) với các làng xã của Quảng Ngãi [1]. Trong dân gian có câu hát nhắc đến địa danh Ao Vuông thuộc xã Tam Nghĩa cũ kết hợp với Truông Ba Gò thuộc xã Bình Long thuộc huyện Bình Sơn [1].

Không gian sinh hoạt trong ca dao còn trải dài từ Cầu Bến Ván (tức cầu An Tân tại huyện Núi Thành cũ) đến Trì Bình, Quán Cơm, Quán Ốc và tiến sâu về phía nam đến sông Trà Khúc cùng chợ Hàng Rượu thuộc thành phố Quảng Ngãi [1]:

“Hỏi thăm qua chú bán quynh Thấy ngoài Bến Ván, Trì Bình gặt chưa? Bến Ván bán tới Quán Cơm Gặt chưa không biết thấy hai cây rơm ú ù!.” [1]

Trong câu ca dao này, từ “quynh” được nguồn giải thích là chiếc cót dùng để quây lại đựng lúa thời xưa [1].

Tác giả bài báo kể từ nhỏ đã nghe các mẹ, các chị ở Quảng Nam ru con bằng một bài hát về vợ chồng lão tiều phu vất vả ở đầu non, tưởng là ca dao quê mình, sau này khi sưu tầm, nghiên cứu văn học ở Quảng Ngãi mới biết đó là tác phẩm “Tiều phu thán” (còn gọi là “Tiều phu hóa phụ”) của tác giả Học Soạn (Phạm Soạn, 1890 – 1936?), người xã Nghĩa Trung, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi [1]. Theo tác giả, mối quan hệ văn hóa giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi khá sâu đậm, còn thể hiện ở phong tục tang ma và hôn nhân của vùng nam Quảng Nam và Quảng Ngãi [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm sáng tác cụ thể và văn bản đầy đủ của bài thơ “Tiều phu thán” của tác giả Học Soạn [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Thời điểm hình thành ban đầu của các câu ca dao ghi nhận địa danh liên hoàn giữa hai xứ [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Ca dao, dân ca – nhìn từ giao thoa vùng Nam Ngãi”, Ẩn Lan, 07/12/2024, https://baodanang.vn/ca-dao-dan-ca-nhin-tu-giao-thoa-vung-nam-ngai-3145441.html, truy cập 24/10/2026.