Công trình

Đình làng Đoan Trai ở Tam Kỳ

Đình làng Đoan Trai nằm tại khối phố Đoan Trai (trước 7/2025: phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ), nay thuộc phường Bàn Thạch, thành phố Đà Nẵng [1][2]. Công trình là nơi tưởng nhớ các bậc tiền nhân khai canh, lập làng và gìn giữ phong tục của cộng đồng cư dân địa phương [1]. Tháng 1/2024, đình làng Đoan Trai được đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh [1].

Lịch sử khởi dựng và xếp hạng di tích

Theo bài báo trên Báo Đà Nẵng năm 2024, di tích đình làng Đoan Trai được khởi dựng vào khoảng năm 1832 – 1835 để tưởng niệm công đức của các bậc tiền bối khai phá đất đai, lập làng, đồng thời làm nơi duy trì sinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng xã [1]. Trải qua thăng trầm thời gian, ngôi đình đã được phục dựng lại ngay trên nền đất cũ [2].

Sáng 4/1/2024, chính quyền địa phương tổ chức lễ công bố và đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh cho đình làng Đoan Trai cùng hai di tích lăng mộ trên địa bàn là Mộ Thủ tài Hầu Lê Văn Thủ (tại phường Trường Xuân cũ) và Mộ Thị lang Bộ Lễ Doãn Văn Xuân (tại phường An Phú cũ) [1]. Theo số liệu công bố tại buổi lễ, đây là một trong 26 di tích được xếp hạng tại khu vực Tam Kỳ lúc bấy giờ, bên cạnh hai di tích quốc gia là địa đạo Kỳ Anh và Văn thánh Khổng Miếu [1].

Quá trình hình thành địa hiệu Đoan Trai

Địa bàn Đoan Trai xưa hình thành trên một cồn đất rộng nằm kẹp giữa hai nhánh sông Quảng Phú (còn gọi là sông Kỳ Phú, nay thuộc địa giới phường Quảng Phú) và sông Bàn Thạch [2]. Vùng này trước đây có hai ngôi làng nhỏ cùng tồn tại là Phước Xuyên và Đoan Trai [2].

Về mặt địa bạ cổ, các tài liệu như Phủ biên tạp lục và Địa bạ Gia Long – Minh Mệnh (lập từ khoảng năm 1814 đến 1836) đều không ghi nhận tên gọi xã Đoan Trai [2]. Tên xã Đoan Trai chỉ chính thức xuất hiện sau năm 1916 trong bản đồ hành chính sắp xếp lại của phủ Tam Kỳ, với tư cách là một trong 24 xã trực thuộc tổng Phú Quý, huyện Hà Đông [2].

Tuy vậy, địa danh này đã xuất hiện sớm hơn trong các văn tự đất đai gia tộc [2]. Theo “phân thư” chia gia sản ngày 14 tháng Giêng năm Gia Long thứ sáu (1807) và bản kê khai ruộng đất ngày 20 tháng 2 năm Gia Long thứ 10 (bài báo ghi năm 1809) của ông Huỳnh Đức Soạn (lưu tại nhà thờ tộc Huỳnh Đức ở thôn Đoan Trai), các xứ đất mang tên “Đoan Trai xứ” và “Đoan Trai Hạ xứ” khi đó thuộc địa phận xã An Thái, tổng An Thái Trung, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Hoa [2].

Theo tư liệu nhà thờ tộc Trần tại Đoan Trai, vị tiền hiền của làng là ông Trần Phước Đảo, thuộc thế hệ thứ tư của tộc Trần làng An Thái [2]. Ông đã đưa gia đình xuống khai khẩn cánh đồng ven chân núi An Hà và lập nên thôn ấp mới, khi mất được chôn cất giữa làng [2]. Tại nhà thờ tộc Trần còn lưu tấm hoành phi “Thọ Dân” có chữ “Sắc tứ” của triều đình ban ngày 20/3 năm Minh Mạng thứ tư (1823) mừng thọ 100 tuổi cho ông Trần Phước Vân, cháu nội của ông Trần Phước Đảo [2]. Ngoài ra, bia công đức lập ngày mùng 10 tháng 9 năm Tự Đức thứ 5 (bài báo ghi năm 1842) cho thấy các phái tộc lúc bấy giờ đã quyên góp tiền của và vật liệu để củng cố các thiết chế thờ tự [2].

Đất đai, nghề nghiệp và sinh hoạt làng xã

Theo lời kể của ông Trần Văn Soạn (người dân Đoan Trai cũ), trước thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp, toàn bộ làng Đoan Trai có diện tích gần 150 ha, trong đó hơn một nửa là đất sản xuất nông nghiệp [2]. Đất ruộng của làng phân bố trên nhiều xứ đồng như Đồng Nhong, Thiêm Liêm, Thứ Mười, Diên Nghị, Gò Dưa, Rộc Xóm [2]. Trong đó, dân làng dành ra 7 mẫu công điền tại xứ Rộc Làng để lấy hoa lợi phục vụ việc tổ chức tế lễ ở đình làng vào ngày 16 tháng Sáu âm lịch hằng năm [2].

Do địa hình cồn đất nằm giữa hai con sông bị nhiễm mặn tới gần mười tháng trong năm, nông dân Đoan Trai xưa chỉ canh tác được một vụ lúa mỗi năm (gieo cấy tháng Mười, thu hoạch vào tháng Ba âm lịch) [2]. Những chân ruộng trũng sát bờ sông chỉ gieo được giống lúa trì dài ngày cho năng suất thấp [2]. Để thích ứng với điều kiện tự nhiên ngập mặn, cư dân trong làng kết hợp làm thêm nghề đánh bắt cá tôm trên sông (bằng lưới, nò, chươm) và nghề dệt chiếu thủ công [2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Quy đổi niên hiệu: theo cách tính thông thường, năm Gia Long thứ 10 là 1811 và năm Tự Đức thứ 5 là 1852, khác với các năm 1809 và 1842 mà bài báo năm 2021 ghi kèm [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Mốc dựng đình khoảng năm 1832 – 1835 [1] chưa có tư liệu gốc đi kèm; tên xã Đoan Trai chỉ có trên bản đồ hành chính sau năm 1916, dù tên xứ đất Đoan Trai đã có trong văn tự từ năm 1807 [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Niên đại chính xác khi phục dựng ngôi đình trên nền cũ và kiến trúc nguyên bản trước khi trùng tu [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Danh sách đầy đủ các vị tiền hiền của các họ tộc khác cùng tham gia lập làng Đoan Trai ngoài tộc Trần và tộc Huỳnh Đức [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Tam Kỳ công bố và đón nhận Bằng xếp hạng di tích cấp tỉnh”, 04/01/2024, https://baodanang.vn/tam-ky-cong-bo-va-don-nhan-bang-xep-hang-di-tich-cap-tinh-3127991.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Từ Phước Xuyên đến Đoan Trai”, 09/05/2021, https://baodanang.vn/tu-phuoc-xuyen-den-doan-trai-3069246.html, truy cập 23/10/2026.