Công trình

Đình làng Dương Lâm

Đình làng Dương Lâm tọa lạc tại xã Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (trước 7/2025: xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang) [1][2]. Công trình hiện nay vốn là ngôi chùa thờ Quan Công của làng, sau năm 1945 được chuyển đổi công năng làm đình làng [1]. Năm 2005, ngôi đình được Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng xếp hạng di tích cấp thành phố [1][2].

Vị trí và lịch sử hình thành

Đình Dương Lâm nằm tại gò đất cao rộng 0,25 ha ở thôn Dương Lâm 2, cách chợ Túy Loan hơn 1 km về phía đông và cách đường ĐT604 khoảng 800 m về phía bắc [2]. Khu vực chung quanh đình có mật độ dân cư sinh sống đông đúc [2].

Theo bài viết trên Báo Đà Nẵng, làng Dương Lâm hình thành vào khoảng cuối thế kỷ XIV thời Trần – Lê [2]. Hai vị tiền nhân thuộc tộc Thi và tộc Phạm đến khai phá đất đai lập nghiệp, được tôn xưng là “lưỡng tộc đồng tiền hiền” [2]. Trước tháng 8/1945, làng mang tên Dương Lam thuộc xã Dương Sơn, đến thời vua Bảo Đại (1925 – 1945) đổi thành Dương Lâm [2]. Sau năm 1975, địa bàn làng cũ tách một phần ba lập thành thôn Dương Lâm 1, phần còn lại sáp nhập cùng làng Cư Nhơn cũ thành thôn Dương Lâm 2 [2].

Quá trình chuyển đổi từ chùa sang đình

Cùng quá trình định cư, làng Dương Lâm từng lập nhiều cơ sở tín ngưỡng như miếu Ngũ Hành, dinh Ông thờ thần Cao Các Quảng Độ đại vương, dinh Bà thờ Thiên Y A Na, dinh Thái Giám và miếu Tam Vị [1]. Ngôi đình làng ban đầu được xây ở vị trí cách đình hiện nay khoảng 500 m, là nơi cất giữ sắc phong và đồ tế tự [1].

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền địa phương và người dân sử dụng ngôi đình cũ làm nơi hội họp [1]. Dân làng đã chuyển toàn bộ bằng sắc, lư hương và đồ thờ tự sang ngôi chùa thờ Quan Công ở trung tâm làng [1]. Từ thời điểm đó, ngôi chùa này đảm nhiệm vai trò làm đình làng Dương Lâm [1]. Bên cạnh Quan Công, đình phối thờ Thành Hoàng làng, thần Đại Càn quốc gia Nam Hải, thần Lang Lại Nhị đại tướng quân và các bậc tiền hiền [1].

Các văn bản gốc về thời điểm dựng đình ban đầu đã thất lạc trong chiến tranh [2]. Dấu tích niên đại được xác định qua hai văn tự Hán Nôm chạm khắc trên xà gồ và thanh trính của công trình [2]. Văn tự thứ nhất ghi việc tu tạo vào tháng 7 năm Bính Dần niên hiệu Tự Đức thứ 19 (1866) [1][2]. Văn tự thứ hai ghi đợt tu bổ vào ngày 15 tháng 6 năm Canh Tuất niên hiệu Duy Tân (1910) [1][2]. Đến năm 2007, phần khung gỗ mục ruỗng nên Nhà nước cấp kinh phí phục dựng lại theo mô hình cũ [1][2]. Trong hai năm 2010 – 2011, khuôn viên ngoại vi của đình tiếp tục được chỉnh trang đồng bộ [1][2].

Cấu trúc kiến trúc

Mặt bằng kiến trúc đình Dương Lâm gần như vuông, mỗi chiều dài khoảng 9 m chưa tính phần hiên, mang nét tương đồng với kiểu nhà tứ trụ của đình làng Nam Bộ [2]. Khung đình dựng bằng các loại gỗ như mít rừng, kiền kiền, sến, kết hợp tường gạch trát vữa và mái lợp ngói âm dương [1][2].

Bộ khung chịu lực gồm bốn cột chính cao 3 m, đường kính cột 28 cm, liên kết vì nóc theo kiểu giao nguyên đỡ đòn đông [1][2]. Trụ trốn (ấp quả) ăn mộng vào thanh trính đỡ hai vì kèo giao nguyên [2]. Từ cột cái, ba thanh kèo nhì, kèo đấm và kèo quyết ăn mộng vươn xòe hình rẻ quạt ra các cột con [2]. Các đầu trính, đầu kèo chạm khắc họa tiết đầu rồng, mây cuộn, hoa lá và chữ Thọ [2].

Điểm khác biệt của đình Dương Lâm so với các ngôi đình khác tại Đà Nẵng là hướng mở cửa [1][2]. Trục cửa không mở theo chiều vuông góc với nóc mái như thông thường mà trổ theo phương dọc cùng hướng đòn đông [1][2]. Hai tường hồi bít đốc quay về phía trước và sau, hai chái biến thành hai mái chính [1][2]. Phía trên nóc đắp tượng Quan Công đặt trong khám nhỏ [1]. Sân trước có cổng tam quan và bình phong đắp họa tiết cổ truyền [1]. Nội thất bố trí ba gian thờ, trong đó gian chính giữa xây khám thờ kiên cố [1].

Hoạt động tế lễ

Hằng năm, dân làng Dương Lâm tổ chức tế lễ vào dịp Tết Nguyên Đán [1]. Lễ giỗ tiền hiền diễn ra vào ngày 14 tháng 4 âm lịch [1]. Lễ chạp mả tiền hiền được tổ chức vào ngày 7 tháng 11 âm lịch để con cháu các dòng họ sum họp tưởng nhớ công đức tiền nhân [1][2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm khởi dựng chính xác của công trình gốc trước các đợt tu bổ năm 1866 và 1910; các tài liệu sắc phong đã mất trong chiến tranh [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Báo Đà Nẵng xuất bản ngày 24/4/2023 ghi khoảng thời gian từ năm Tự Đức Bính Dần (1866) đến nay là 137 năm, con số này không khớp với khoảng cách thực tế giữa hai mốc năm [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Ký hiệu văn bản công nhận di tích ngày 23/12/2005 giữa hai nguồn có khác biệt: Cổng thông tin điện tử xã Hòa Vang ghi Quyết định số 9859/QĐ-UBND, trong khi Báo Đà Nẵng ghi số 9859/2005/QĐ-UBND [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Cổng thông tin điện tử xã Hòa Vang, “Đình Dương Lâm”, 19/9/2024, https://hoavang.danang.gov.vn/vi/web/hoavang/w/dinh-duong-lam-479055, truy cập 23/10/2026.
  2. Gia Huy, “Di tích Lịch sử, văn hóa Hòa Vang: Đình Dương Lâm – Vẻ đẹp kiến trúc nhà tứ trụ của đình làng Nam Bộ”, Báo Đà Nẵng, 24/4/2023, https://baodanang.vn/di-tich-lich-su-van-hoa-hoa-vang-dinh-duong-lam-ve-dep-kien-truc-nha-tu-tru-cua-dinh-lang-nam-bo-3235750.html, truy cập 23/10/2026.