Văn hoá

Làn điệu hát Nam trong hát bả trạo

Trong diễn xướng hát bả trạo tại lễ hội cầu ngư của cư dân vạn chài xứ Quảng, hát Nam là một trong các làn điệu được dùng nhiều [1]. Điệu hát này gắn liền với tín ngưỡng tục thờ cá Ông (Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Tôn Thần), thể hiện qua các bài văn vần kết hợp động tác chèo thuyền [1]. Vào đầu tháng 9/2013, nghệ thuật hát bả trạo đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia [1].

Nguồn gốc và ba lối hát trong bả trạo

Hát bả trạo có khởi nguyên từ sân khấu dân gian, được nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ bằng truyền miệng, vũ đạo và âm nhạc [1]. Theo bài viết trên Báo Quảng Nam, các lối nói và hát được sử dụng trong bả trạo gồm ba nguồn: lối hát bắt nguồn từ tuồng xứ Quảng truyền thống, các làn điệu dân ca Quảng Nam, và lối hát có nguồn gốc từ âm nhạc Phật giáo [1].

Về mặt cơ bản, các kiểu hát, nói, kể trong bả trạo tương tự như trong hát tuồng truyền thống, được nghệ nhân vận dụng nhằm thể hiện tâm thức cầu xin, chúc tụng thần linh [1]. Về sắc thái âm nhạc, các thể xướng, thán, tẩu mã, ngâm, phú (gồm phú lăn, phú lục), bắt bài lệnh và hát Nam đều mang đậm chất của âm nhạc Phật giáo [1]. Điệu hát mang sắc thái buồn man mác, thể hiện qua cách rung hơi, nhấn từng âm và láy đuôi âm vực lên cao sau mỗi câu hát [1].

Cấu trúc câu thơ và kỹ thuật xuống Nam

Theo ý kiến một số nghệ nhân hát tuồng ở Quảng Nam, Đà Nẵng và nghệ nhân các đội chèo bả trạo ở Thăng Bình, Duy Xuyên, Hội An mà bài báo dẫn, thuật ngữ “xuống Nam” chỉ việc nối tiếp một đoạn nói lối chuyển sang một làn điệu Nam [1]. Điểm khác biệt giữa hai thể loại là trong hát tuồng, câu Nam được nối liền sau câu nói lối, còn trong hát bả trạo thì hát tách bạch từng câu thơ theo thể lục bát hoặc song thất lục bát [1].

Lời hát Nam lục bát gồm những câu miêu tả cảnh lao động như: “Một mình vừa chống vừa chèo / Không ai tát nước đỡ nghèo một phen”, hoặc câu tạ ơn: “Chính chiên phải khiếp oai hùng / Muôn dân ơn đợi, cửu trùng gia phong” [1]. Ở thể song thất lục bát, lời hát mang tính chất cúng tế như: “Chốn Hà Sa, bao la thế giới / Đốt hơi trầm, phất phới mùi hương” [1].

Về kỹ thuật âm nhạc, trong tuồng truyền thống khi “xuống Nam”, chủ âm được luyến xuống bằng quãng bốn đúng cộng một quãng hai trưởng và kết ở vần bằng mang dấu huyền [1]. Trong hát bả trạo, quy luật này biến chuyển tùy theo ngữ điệu và dấu giọng của câu chữ [1]. Câu hát có trường hợp không về chủ âm mà về bậc 5 so với chủ âm, phụ thuộc vào vần của chữ thơ cuối cùng [1].

Lối hát xen kẽ và phần kết thúc của con trạo

Trong màn diễn kết hợp động tác chèo, làn điệu hát Nam được bố trí xen kẽ với các lối hát khác nhau [1]. Hát Nam có thể tiếp nối sau điệu hát Tán, điệu Bắt bài, điệu nói lối Vãn, hoặc sau làn điệu Kệ có trạo xô niệm Phật [1].

Phần lớn điệu hát Nam trong bả trạo được diễn xướng tương tự thể loại hò đưa linh trong dân gian [1]. Sự khác biệt rõ với tuồng còn nằm ở phần kết thúc: trong tuồng, đoạn xuống Nam kết thúc bằng một hồi trống chầu xổ dài, còn trong bả trạo thì kết thúc bằng phần xô của tập thể con trạo [1].

Ở bài chèo Nghinh Ông “Long thần Bả trạo ca”, phần xô của con trạo là câu “hò hầu Ông” [1]. Còn ở bài “Âm linh Bả trạo ca” (chèo Cô hồn) và bổn chèo “Liệt sĩ”, phần xô được đổi thành “hò hầu linh” [1]. Toàn bộ giai điệu mang sắc thái thán, vãn, nhẹ nhàng như một lời ru tiễn đưa [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Bài báo nêu bả trạo được xếp hạng di sản phi vật thể quốc gia vào tháng 9/2013 nhưng chưa ghi số quyết định cụ thể [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Bản ký âm thang âm hoàn chỉnh cho từng biến thể hát Nam ở các làng chài khác nhau chưa được bài báo công bố [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Làn điệu hát Nam trong Bả trạo xứ Quảng”, 04/01/2014, https://baodanang.vn/lan-dieu-hat-nam-trong-ba-trao-xu-quang-3029558.html, truy cập 24/10/2026.