Văn hoá

Người Ca Dong ở Trà My

Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà
Vịnh biển và thành phố Đà Nẵng nhìn từ núi Sơn Trà. Ảnh minh hoạ: Christophe95, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Ở vùng Trà My, nhóm người đông nhất trên những triền núi dọc sông Tranh là người Ca Dong. Trên giấy tờ họ là người Xơ Đăng; trong đời thường, chính tên gọi này cũng còn chỗ phải bàn [1][3].

Một cái tên còn tranh luận

Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam xếp Ca Dong là một nhóm của dân tộc Xơ Đăng. Nhưng một nhà dân tộc học khảo sát ở Nam Trà My năm 2008 ghi nhận rằng chính người Ca Dong ở đây không tự nhận mình là “Ca Dong” [1]. Số liệu thống kê huyện vẫn tách Ca Dong và Xơ Đăng thành hai nhóm [1].

Sống ở đâu

Ở Bắc Trà My cũ, người Ca Dong sống trên các triền núi hai bên sông Tranh, thuộc các xã Trà Sơn, Trà Bui, Trà Giáp, Trà Giác, Trà Ka, Trà Đốc, Trà Tân; vùng này nay là năm xã Trà Liên, Trà Giáp, Trà Đốc, Trà Tân, Trà My [3].

Ở Nam Trà My cũ, theo khảo sát năm 2008, người Ca Dong ở các xã Trà Dơn, Trà Mai, Trà Tập, Trà Don, Trà Vân, Trà Vinh và một phần Trà Cang; người Xơ Đăng (theo cách gọi của thống kê huyện) tập trung ở Trà Cang, Trà Nam, Trà Linh [1]. Đó là tên xã trước 7/2025.

Làm ăn

Người Ca Dong hái măng nứa trong rừng mỗi mùa mưa; theo nguồn dẫn ở bài quế Trà My, họ cùng người Mơ Nông là những người đem cây quế từ rừng về trồng trong vườn.

Từ năm 1976, miền núi Quảng Nam đón người Kinh và một số dân tộc khác đến lập nghiệp. Một nghiên cứu ở thôn 7, xã Trà Tân cũ cho thấy việc xen cư với người Kinh đã góp phần đa dạng hóa sinh kế của người Ca Dong, nhưng do khác biệt về văn hóa, xã hội, mức sống của người Ca Dong vẫn thấp hơn hàng xóm người Kinh [2].

Gùi ba ngăn

Đan lát là việc của đàn ông Ca Dong. Họ lên rừng chọn tre, nứa, lồ ô, mây, giang trên một năm tuổi, thẳng, đều, không sâu, và chỉ chặt vừa đủ để rừng còn tái sinh [3]. Từ đó họ đan gùi ba ngăn cho đàn ông, gùi lớn nhỏ cho phụ nữ và trẻ em, mâm đựng thức ăn, giỏ, rổ sảy lúa; một sản phẩm có khi mất cả tháng [3].

Ở làng Cao Sơn (xã Trà Sơn cũ), người Ca Dong gói bánh ốc mỗi khi được mùa hay có lễ, cả làng đến cùng gói [4].

Chiêng không có cồng

Theo khảo sát năm 2008, dàn chiêng của người Xơ Đăng ở Nam Trà My không có cồng (loại chiêng có núm), nên không có “cặp chiêng chủ” như ở nhiều dân tộc Tây Nguyên; cuộc tấu thường khởi đầu bằng trống [1]. Chiêng hầu như không trang trí; hình duy nhất ghi nhận được là hai con thằn lằn nằm đối đầu qua quai xách [1].

Giá trị chiêng ở đây thấp hơn nhiều nơi khác: chiếc chiêng tốt nhất đổi gần bằng một con trâu sắp đẻ, một bộ chiêng thường gồm sáu chiếc thanh la đổi bằng một con trâu [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Số người Ca Dong hiện nay; điều tra dân số tính chung vào dân tộc Xơ Đăng [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Khảo sát năm 2008 về chiêng dùng tên “Xơ Đăng” mà không tách riêng Ca Dong; chưa rõ các nhận xét có đúng cho mọi làng Ca Dong không [1].
  • Nghĩa của tên gọi Ca Dong [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Lê Thúy Liên, “Cồng chiêng: biểu tượng của các dân tộc thiểu số Trường Sơn – Tây Nguyên (nghiên cứu tại huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam)”, Tạp chí Dân tộc học, số 4, 2008, https://vjol.info.vn/tapchiviendantochoc/article/download/128695/105560/, truy cập 19/10/2026.
  2. Lê Thị Thỏa, “Khác biệt sinh kế giữa người Kinh và người Ca-dong và một số vấn đề đặt ra (trường hợp thôn 7, xã Trà Tân, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam)”, bản PDF trên VJOL, https://vjol.info.vn/ssir/article/download/55814/46452/, truy cập 19/10/2026.
  3. Báo Văn Hóa, “Đồng bào Ca Dong giữ nghề truyền thống”, 11/8/2025, https://baovanhoa.vn/dan-toc-ton-giao/giu-nghe-truyen-thong-giu-hon-van-hoa-cua-dong-bao-ca-dong-160326.html, truy cập 19/10/2026.
  4. Báo Văn Hóa, “Bảo tồn văn hóa bản địa để phát triển du lịch vùng cao Bắc Trà My”, 3/7/2023, https://baovanhoa.vn/du-lich/bao-ton-van-hoa-ban-dia-de-phat-trien-du-lich-vung-cao-bac-tra-my-31741.html, truy cập 19/10/2026.