Con người

Nguyễn Dục (1807 – 1877), Tế tửu Quốc tử giám

Khi tuổi đã ngoài 70 và xin về làng dưỡng bệnh, Nguyễn Dục được vua Tự Đức đặc cách thăng chức Thự hữu Tham tri Bộ Lễ cùng một nửa bổng lộc tại quê, nhưng ông dâng sớ xin từ chối vì sợ mang tiếng lạm nhận; nhà vua phê trả lời: “Không phải là lạm” [1][2][3]. Ông là vị quan, nhà giáo người làng Chiên Đàn, từng đứng đầu Quốc tử giám và dạy học tại Dục Đức đường dưới triều Nguyễn [1][2].

Quê quán và khoa cử

Nguyễn Dục (còn gọi là Nguyễn Văn Dục), tự Tử Minh, sinh tại làng Chiên Đàn, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam [1][3]. Bài viết năm 2023 trên Báo Đà Nẵng ghi chi tiết hơn rằng nơi sinh của ông là ấp Cây Dừa (sau đổi thành ấp Gia Thọ), làng Chiên Đàn, tổng Chiên Đàn Trung, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình (trước 7/2025 là thôn An Thọ, xã Tam An, huyện Phú Ninh; nay thuộc xã Tây Hồ) [2]. Cũng theo bài báo này, tổ tiên ông vốn ở huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, sau chuyển đến làng Chiên Đàn lập nghiệp [2]. Sách *Di tích và Danh thắng Quảng Nam* (Sở Văn hóa – Thông tin Quảng Nam, 2006) chép cha ông là nhà giáo Nguyễn Văn Túy, mẹ là bà Ung Thị Lãng (đoạn sau trong bài ghi là bà Lãnh); năm Tự Đức thứ 19, Bính Dần (1866), cha ông được ban tặng tước Phụng nghi đại phu Hàn lâm viện thị độc, mẹ ông được ban tặng tước Chánh Ngũ phẩm Nghi nhân [2].

Về năm sinh của ông, bài báo dẫn Mộc bản sách *Quốc triều Đăng khoa lục* (quyển 1, mặt khắc 11) ghi năm Đinh Mão (1807) [1], trong khi hai bài khác trên Báo Đà Nẵng ghi năm 1806 (riêng chú thích ảnh bài năm 2023 vẫn ghi 1807 – 1877) [2][3].

Theo Mộc bản sách *Quốc triều Hương khoa lục* (quyển 2, mặt khắc 12), năm Đinh Dậu (1837), ông đỗ cử nhân tại trường thi Thừa Thiên [1]. Năm Mậu Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (1838), ông thi Hội đỗ Phó bảng [1][2][3]. Sau khi vinh quy, ông được bổ làm quan nhưng xin không nhậm chức để về quê phụng dưỡng mẹ già đau yếu [1][2][3].

Đến năm Quý Mão, Thiệu Trị thứ 3 (1843), sau khi mãn tang mẹ, ông được vua Thiệu Trị triệu về kinh giữ chức Kiểm thảo Hàn lâm viện (có nguồn ghi Kiểm thảo sơ bộ hoặc Hàn lâm kiểm thảo) [1][2][3]. Sau đó ông làm Đồng Tri phủ Kiến Thụy [1] (hai bài năm 2010 và 2023 ghi Tri phủ Kiến Thụy) [2][3], rồi chuyển về giữ chức Trước tác sung Biên tu Quốc sử quán và Hành tẩu Nội các [1][2][3].

Mười bốn năm dạy học ở quê

Năm Đinh Mùi, Thiệu Trị thứ 7 (1847), Nguyễn Dục bị bệnh nên xin về quê nghỉ dưỡng và mở lớp dạy học [1][2][3]. Trong 14 năm dạy học tại quê nhà, ông đào tạo nhiều học trò đỗ đạt ở các kỳ thi Hương, thi Hội [1][2][3].

Trong số học trò của ông có con rể là Trần Văn Dư, người đỗ tiến sĩ khoa thi Hội năm 1875 (hai bài ghi năm Ất Hợi 1875 [1][3], một bài ghi Ất Dậu 1875 [2]) và về sau lãnh đạo phong trào Nghĩa hội Quảng Nam chống Pháp [1][3]. Con trai của Nguyễn Dục là Nguyễn Thích đỗ tiến sĩ (Tam giáp) năm 1884 (hai bài ghi khoa thi Giáp Thân 1884 [1][3], một bài ghi khoa thi Kiến Phúc 1884 [2]); trong ngày thất thủ kinh đô Huế, Nguyễn Thích chọn cái chết chứ không đầu hàng quân Pháp [1][3].

Tế tửu Quốc tử giám và Giáo đạo Dục Đức đường

Năm Tân Dậu, Tự Đức thứ 14 (1861), sau nhiều lần có chiếu chỉ bổ nhiệm, Nguyễn Dục ra nhận chức Giáo thụ (có nguồn ghi Giáo thọ) phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, rồi làm Đốc học Quảng Ngãi [1][2][3]. Ba năm sau, năm Giáp Tý, Tự Đức thứ 17 (1864), ông được triệu về kinh đô Phú Xuân (Huế) giữ chức Viên ngoại, lĩnh Lang trung Bộ Lại [1][2][3].

Về trình tự thăng bổ giai đoạn 1868 – 1869, các bài báo ghi nhận khác nhau. Theo bài năm 2010 và bài năm 2018, vào năm Mậu Thìn (1868), ông được thăng Thị độc Đại học sĩ, rồi Đốc học Quảng Nam; ít lâu sau ông cáo bệnh về quê [1][3]. Bấy giờ sinh viên ở Quốc tử giám thiếu vắng, vua Tự Đức hỏi Tham tri Bộ Lại Phạm Phú Thứ rằng ở Quảng Nam có ai phẩm hạnh đoan trang chính đính không; khi Phạm Phú Thứ tâu tên Nguyễn Dục, nhà vua liền cất nhắc ông lên chức Tế tửu Quốc tử giám [1][3]. Trong khi đó, bài báo năm 2023 lại ghi ông được cất nhắc làm Tế tửu vào năm “Bính Dần 1868”, giữ chức một thời gian rồi xin về quê vì bệnh nhưng được vua Tự Đức giữ lại làm Phó Chủ khảo trường thi Hương Bình Định, đến năm “Tự Đức thứ 21 (Mậu Thìn 1869)” mới thăng Thị độc Đại học sĩ, rồi Đốc học Quảng Nam [2].

Năm Nhâm Thân, Tự Đức thứ 25 (1872), ông được phong Thị lang Bộ Lễ, sung chức Giáo đạo ở nhà Dục Đức (Dục Đức đường) để dạy các hoàng tử (xem thêm nhà nho xứ Quảng dạy hoàng tử) [1][2][3]. Theo bài viết năm 2023, ông dạy hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Chân (sau là vua Dục Đức), tiếp đó dạy các hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đăng (vua Kiến Phúc) và Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (vua Đồng Khánh) [2]. Do ông có tác phong đạo mạo, nghiêm nghị nên các hoàng tử đều kính sợ mỗi khi lên lớp; lời dụ của vua Tự Đức khắc trên Mộc bản sách *Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập* (quyển 33, mặt khắc 7, 8) ghi rằng hoàng tử kính sợ ông còn hơn cả Đoàn Khắc Nhượng [1][2].

Những năm cuối đời và di tích tưởng niệm

Năm Bính Tý (1876), vì bệnh nặng, ông xin từ quan; vua Tự Đức đặc cách cho nghỉ hạn 3 tháng, ban 50 lạng bạc và sai quan địa phương thường xuyên thăm hỏi [1][2]. Năm Đinh Sửu (1877), bệnh lâu ngày chưa khỏi, ông dâng sớ xin ở lại làng (bài năm 2010 gộp việc này vào năm 1876) [1][2][3]. Vua Tự Đức xuống dụ thăng cho ông chức Thự hữu Tham tri Bộ Lễ (chiếu khen thưởng dẫn trong bài năm 2010 ghi thăng thụ Trung phụng Đại phu, giữ chức Hữu Tham tri Bộ Lễ), cho nhận một nửa bổng lộc tại làng, khi bệnh thuyên giảm thì vào cung nhận chức [1][2][3]. Nguyễn Dục dâng sớ từ chối, viện lẽ chỉ bậc đại thần công lớn như Đông các Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn mới đáng được đặc cách gia ơn, nhưng nhà vua không chấp thuận lời từ chối ấy [1][2][3].

Mùa đông năm 1877, Nguyễn Dục qua đời tại quê nhà; vua Tự Đức chiếu lệ cấp tiền tử tuất và truy tặng chức Tham tri [1][2][3]. Mộc bản sách *Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập* (quyển 33, mặt khắc 9) chép ông đỗ đầu hàng huyện ở khoa thi Hội, làm quan thanh liêm, được kẻ sĩ Nam Châu suy tôn là “người có học hạnh” [1][2].

Phần mộ của ông đặt tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh cũ (nay thuộc xã Chiên Đàn); bài năm 2010 ghi mộ rộng khoảng 60 m² ở thôn Thạch Hòa 1 và được trùng tu năm 1991, còn bài năm 2023 ghi mộ ở thôn Đàn Trung [2][3]. Ngôi mộ được UBND tỉnh Quảng Nam cũ xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp tỉnh ngày 15/2/2005 [1][2][3]. Tại xã Tam An cũ (nay thuộc xã Tây Hồ) có nhà lưu niệm và bia lưu niệm Nguyễn Dục – nơi lưu giữ các văn bằng, sắc phong của ông – nằm gần nhà thờ tiến sĩ Trần Văn Dư [1][2][3]. Tên ông được đặt cho một trường trung học phổ thông ở huyện Phú Ninh cũ và một con đường tại Tam Kỳ [1][2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm sinh và tuổi thọ của Nguyễn Dục chưa thống nhất giữa các bài báo: bài dẫn Mộc bản *Quốc triều Đăng khoa lục* ghi sinh năm Đinh Mão (1807), hưởng thọ 71 tuổi [1]; bài năm 2023 ghi sinh năm 1806, hưởng thọ 70 tuổi [2]; bài năm 2010 ghi sinh năm 1806, hưởng thọ 71 tuổi [3] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Trình tự và năm ông nhận chức Tế tửu Quốc tử giám, Thị độc Đại học sĩ và Đốc học Quảng Nam trong khoảng 1868 – 1869 chép khác nhau giữa bài năm 2023 (ghi năm Bính Dần là 1868, Mậu Thìn là 1869) và hai bài năm 2010, 2018 (ghi Mậu Thìn 1868) [1][2][3] [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Tên thôn nơi đặt mộ Nguyễn Dục tại xã Tam Đàn cũ được bài năm 2010 ghi là thôn Thạch Hòa 1 [3], còn bài năm 2023 ghi là thôn Đàn Trung [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Thơm Quang, “Nguyễn Dục qua Di sản Mộc bản triều Nguyễn”, Báo Đà Nẵng, 22/12/2018, https://baodanang.vn/nguyen-duc-qua-di-san-moc-ban-trieu-nguyen-3034910.html, truy cập 23/10/2026.
  2. M.H.L, “Người thầy dạy ba vua”, Báo Đà Nẵng, 30/7/2023, https://baodanang.vn/nguoi-thay-day-ba-vua-3236148.html, truy cập 23/10/2026.
  3. An Trường, “Chuyện nhà giáo dục Nguyễn Dục”, Báo Đà Nẵng, 7/3/2010, https://baodanang.vn/chuyen-nha-giao-duc-nguyen-duc-3226684.html, truy cập 23/10/2026.