Xuất xứ danh xưng Đà Nẵng là chủ đề có nhiều kiến giải khác nhau giữa các nhà nghiên cứu [1]. Trong bài viết “Từ Hải Châu đến Đà Nẵng” đăng trên Báo Đà Nẵng năm 2009, tác giả Lê Văn Tất đưa ra giả thuyết tiếp cận từ góc độ chữ Hán và thực địa, gắn nguồn gốc tên thành phố với cù lao Hải Châu cổ xưa [1]. Bên cạnh giả thuyết này, nguồn gốc danh xưng còn nhiều cách giải thích khác, xem thêm tại bài tên gọi Đà Nẵng [1].
Cù lao Hải Châu và hai nhánh sông Hàn cổ
Theo tác giả Lê Văn Tất, vào thời Chiêm Thành, khu vực Đà Nẵng xưa là vùng sông nước mênh mông gắn liền với biển [1]. Phân tích ngữ nghĩa địa danh, tác giả giải thích “hải” là vùng biển gần bờ, còn “châu” trong Hải Châu viết chữ Hán là 洲 (9 nét, có bộ thủy 氵), mang nghĩa bãi cù lao hoặc dải đất nổi giữa nước có thể ở được [1]. Tác giả lưu ý chữ châu này khác với chữ châu 州 (6 nét, không có bộ thủy) vốn chỉ khu vực hành chính thời xưa như Ô châu hay Lý châu [1]. Chi tiết này còn được thấy qua tấm biển “Hải Châu Chánh xã” tại đình làng Hải Châu [1].
Từ nét nghĩa đó, tác giả đưa ra nhận định rằng Hải Châu xưa vốn là một cù lao chia dòng sông Hàn thành hai nhánh [1]. Nhánh bên hữu chính là lòng sông Hàn hiện nay [1]. Nhánh bên tả rộng hơn, chảy xuyên qua khu trung tâm đô thị hiện nay rồi đổ ra các bãi biển Thanh Khê, Hà Khê và Thanh Bình theo hình rẽ quạt [1]. Tác giả suy đoán cửa vào của nhánh tả có thể nằm trong đoạn từ đường Thái Phiên đến khu vực Đài Tưởng niệm trên đường 2 Tháng 9 ngày nay [1].
Qua nhiều thế kỷ, nhánh sông bên tả chịu hai tác động bồi lấp [1]. Một mặt phù sa sông bồi lắng dần tương tự quá trình diễn ra trên sông Cổ Cò; mặt khác bùn đất từ vùng đất liền và núi Phước Tường tràn xuống chài lấp sau những đợt mưa lũ lớn [1]. Do đất chài lấp màu mỡ hơn đất cát bồi, cư dân đã đến lập xóm làng từ sớm [1]. Khi cửa vào bị phù sa lấp hẳn, nước sông Hàn không còn chảy qua khu vực này, để lại bãi đất ngổn ngang cồn cát, gò đồi xen kẽ ao bàu [1]. Cù lao Hải Châu từ đó không còn bị cô lập mà nối liền vào đất liền ở phía tây và phía nam [1].
Giả thuyết chiết tự hai chữ “Đà Nẵng”
Từ bối cảnh nhánh sông tả ngạn bị lấp dòng, tác giả Lê Văn Tất cho rằng khu đất gồ ghề bị nông dân chê bỏ hoang ấy đã được đặt tên là “Đà Nẵng” theo chữ Hán [1]. Trong Hán tự, chữ đà (沱 – bộ thủy 氵) mang nghĩa sông nhánh hoặc nhánh sông; chữ nẵng (曩 – bộ nhật 日, còn đọc là nãng) có nghĩa là ngày xưa hoặc xưa kia [1]. Kết hợp hai chữ lại, tác giả giải thích tên gọi Đà Nẵng có nghĩa là “Ngày xưa là nhánh sông”, hay “Nơi đây xưa kia là nhánh sông bị bồi lấp” [1].
Theo giả thuyết này, tên gọi Đà Nẵng xuất hiện cùng thời với các làng xã xung quanh, ước đoán trong khoảng thời gian từ năm 1400 (thời nhà Hồ) đến năm 1490 (lúc vua Lê Thánh Tông lập bản đồ lần cuối) [1]. Ban đầu, đây không phải địa danh hành chính mà chỉ là một địa danh định vị được quan chức địa bộ dùng để làm mốc phân định ranh giới cho các làng xã lân cận theo lối “xem mặt đặt tên” [1]. Về sau, khi sông Cổ Cò bị bồi lấp khiến thuyền bè ra vào Hội An gặp trở ngại, giới buôn bán và giới quân sự mới chú ý nhiều hơn đến vị trí chiến lược của vùng đất Đà Nẵng [1].
Để củng cố lối chiết tự địa danh theo nghĩa thực cảnh, tác giả dẫn thêm các ví dụ khác ở Đà Nẵng [1]: – Liên Trì (liên: hoa sen, trì: ao), nghĩa là ao sen, vốn là một trong 66 xã từng được ghi trong sách Ô Châu cận lục [1]. – Đà Sơn (陀山), cùng âm “đà” với Đà Nẵng nhưng khác bộ thủ, chữ đà này nghĩa là chỗ đất gập ghềnh; Đà Sơn là vùng đất núi gập ghềnh [1]. – Sơn Trà (山茶), nghĩa là cây chè trên núi, hoặc cây sơn trà là loại cây trồng cảnh (xem thêm bán đảo Sơn Trà) [1].
Cần lưu ý đây là giả thuyết riêng của tác giả Lê Văn Tất, theo ông là kết quả khảo sát thực địa và nghiên cứu địa danh viết bằng chữ Hán [1].
Tra cứu liên quan
- Tổng quan tranh luận: tên gọi Đà Nẵng
- Di tích và địa phương liên quan: đình Hải Châu, phường Hải Châu
- Dòng sông chảy qua: sông Hàn, sông Cổ Cò
- Danh thắng lân cận: bán đảo Sơn Trà
- Bảng tra hành chính mới: bảng tra phường, xã mới
Điều còn chưa rõ
- Giả thuyết cù lao Hải Châu và nhánh sông tả ngạn sông Hàn của tác giả Lê Văn Tất chưa có bằng chứng khảo cổ học hay trắc địa địa chất chứng minh [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Chưa có văn bản hay thư tịch cổ nào thời nhà Hồ hoặc thời Hồng Đức được công bố xác nhận chữ Đà Nẵng dùng làm địa danh định vị với chữ đà 沱 và nẵng 曩 [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Ranh giới thực địa chính xác của nhánh sông bên tả từ đường Thái Phiên ra đến vịnh Đà Nẵng chỉ là suy đoán của tác giả [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Từ Hải Châu đến Đà Nẵng”, 19/04/2009, https://baodanang.vn/tu-hai-chau-den-da-nang-3226253.html, truy cập 27/10/2026.