Lịch sử

Bức thư năm 1546 gửi Đô tướng Quảng Nam Bùi Tá Hán

Bức thư ngắn ngày 22 tháng Giêng năm Nguyên Hòa thứ 14 (1546) gửi Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán được ghi chép trong sử liệu Phủ tập Quảng Nam ký sự [1]. Tài liệu này phản ánh các kế sách chiến lược của triều đình nhà Lê trung hưng nhằm phát triển vùng đất biên viễn ngay sau khi lấy lại thừa tuyên Quảng Nam từ tay nhà Mạc [1]. Văn bản cũng để lại câu hỏi về danh tính thực sự của nhân vật mang danh xưng “Phụ quốc chính Nguyễn” [1].

Bối cảnh và việc phong chức Đô tướng Bùi Tá Hán

Theo cuốn sử liệu Phủ tập Quảng Nam ký sự, được biên soạn vào đời vua Lê Anh Tông dưới niên hiệu Chính Trị (1558 – 1571), Quảng Nam được triều đình nhà Lê trung hưng chú ý từ giữa thế kỷ XVI chứ không đợi đến chuyến tuần du phương Nam qua đèo Hải Vân của Nguyễn Hoàng vào năm 1602 [1]. Vào tháng 5 năm Nguyên Hòa thứ 14 (1546), sau khi lấy lại thừa tuyên Quảng Nam từ tay nhà Mạc, triều đình phái sứ thần đi theo viên Tham quân cùng viên Hướng đạo sứ vào dinh Quảng Nam [1]. Sứ bộ đã tuyên đọc sắc chỉ phong cho Bắc quân Đô đốc Bùi Tá Hán giữ chức Quảng Nam dinh Đô tướng [1].

Theo sử liệu trên, gắn với sự kiện này có bức thư ngắn viết ngày 22 tháng Giêng năm Nguyên Hòa thứ 14 (1546) của Phụ quốc chính Nguyễn gửi Bùi Tá Hán [1]. Dưới danh nghĩa “vài lời dặn dò” dành cho vị Đô đốc vừa thắng trận và được giao nhiệm vụ “ở lại trấn nhậm một nửa đất nước, gánh vác trọng trách ở miền biên giới phía Nam”, bức thư thể hiện vai trò của Quảng Nam và các kế sách phát triển của triều đình trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp đối phó nhà Mạc [1].

Ba kế sách phát triển và giữ yên biên giới

Trong bức thư, trấn Quảng Nam được đánh giá là vùng đất “địa quảng, điền phì, hộ hy, nhân thiểu”, nghĩa là đất rộng, ruộng phì nhiêu màu mỡ nhưng số hộ còn thưa thớt và dân cư ít [1]. Nhận định này cho thấy triều đình coi Quảng Nam là vùng giàu tiềm năng nông nghiệp nhưng thiếu nhân lực khai phá [1]. Triều đình đã chủ trương đưa dân nghèo từ phía bắc vào vùng đất này để khai khẩn, lập làng mạc và sản xuất lương thực nhằm “đồ cửu kế”, tức tính toán kế sách lâu dài [1].

Đối với cư dân sinh sống ở vùng thượng du đầu nguồn xứ Quảng, nơi đời sống lúc bấy giờ du canh du cư, bấp bênh, “bất tuân vương hóa” và thường có hiềm khích với người Kinh, bức thư xác định biện pháp đối xử linh hoạt [1]. Bức thư chủ trương đối xử “có cương có nhu” sao cho hòa thuận, dựa vào chính sách nhu viễn nhằm chinh phục lòng người, “lấy việc vỗ yên là chính” [1].

Đối với Chiêm Thành ở phía nam, lân bang vốn có hiềm khích và thường quấy nhiễu hậu cứ của nhà Lê trung hưng mỗi khi bị nhà Mạc xúi giục, bức thư chủ trương “ẩn nhẫn né tránh mọi đụng chạm” [1]. Mục đích của việc tránh xung đột ở phía nam là dồn toàn bộ lực lượng nhằm đối phó với nhà Mạc và giành lại đất nước, coi đây là nhiệm vụ cấp bách (“cấp vụ”) [1].

Theo bài báo, Đô tướng Bùi Tá Hán đã thực thi các chỉ đạo chiến lược trên, góp phần đưa Quảng Nam từ chỗ thưa dân vào giữa thế kỷ XVI (tác giả bài báo ước chừng khoảng 10.000 hộ với 5 vạn dân) trở thành xứ sở đông dân và thịnh vượng dưới thời các chúa Nguyễn [1]. Tác giả bài báo trích dẫn sách Phủ biên tạp lục của Bảng nhãn Lê Quý Đôn ca ngợi: “Xứ Quảng là đất phì nhiêu nhất thiên hạ…” [1]. Theo tác giả, chính sách với miền thượng và với Chiêm Thành được Bùi Tá Hán, rồi sau đó Nguyễn Hoàng, thực thi đạt kết quả; mối đe dọa từ phía Chiêm Thành dần bị loại trừ, hậu cứ của nhà Lê được bảo đảm [1].

Tranh luận về danh tính “Phụ quốc chính Nguyễn”

Văn bản ghi danh xưng người gửi là “Phụ quốc chính Nguyễn”, dẫn tới nhiều cách giải thích khác nhau [1].

Trong cuốn sách Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) – Sáng tổ vương quốc nhà Nguyễn, tác giả Hoàng Đình Hiếu cho rằng người viết bức thư chính là Nguyễn Hoàng, được viết hơn 8 tháng sau khi thân phụ là Hưng Quốc công Nguyễn Kim bị ám hại [1]. Tuy nhiên, tác giả bài báo Vân Trình nhận định cách hiểu này chưa hợp lý [1]. Vào năm 1546, Nguyễn Hoàng còn trẻ tuổi, mới mang tước Hạ Khê hầu và chưa giữ vai trò chính trị hay quân sự độc lập [1]. Khi Nguyễn Kim mất, toàn bộ binh quyền của nhà Lê được giao cho con rể là Thái phó Lạng Quốc công Trịnh Kiểm, người trở thành nhà điều hành tối cao của chính quyền và quân đội Nam triều [1].

Mặt khác, Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ đưa ra nhận định tác giả bức thư là Nguyễn Kim [1]. Quan điểm này phù hợp với thông tin trong sách Phủ biên tạp lục, theo đó Nguyễn Kim mất ngày 20 tháng 5 năm Nguyên Hòa thứ 14 (1546), nghĩa là sau ngày viết bức thư gần 4 tháng [1]. Dù vậy, ghi chép này lại mâu thuẫn với sách Đại Việt sử ký toàn thư, bộ quốc sử ghi Nguyễn Kim mất ngày 20 tháng 5 năm Nguyên Hòa thứ 13 (1545), tức trước ngày viết bức thư hơn 8 tháng [1]. Hiện câu hỏi ai là tác giả bức thư năm 1546 vẫn chưa có kết luận thống nhất [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Danh tính cụ thể của nhân vật đề tên “Phụ quốc chính Nguyễn” (Nguyễn Kim hay Nguyễn Hoàng) vẫn tồn tại các ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Ngày mất của Hưng Quốc công Nguyễn Kim ghi chép không đồng nhất giữa Phủ biên tạp lục (năm 1546) và Đại Việt sử ký toàn thư (năm 1545), dẫn đến việc chưa thể xác thực thời điểm viết thư so với thời gian Nguyễn Kim còn sống [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Kế sách phát triển xứ Quảng giữa thế kỷ XVI”, 11/10/2026, https://baodanang.vn/ke-sach-phat-trien-xu-quang-giua-the-ky-xvi-3354788.html, truy cập 27/10/2026.