Ở Phú Xuân Trung, sắt được luyện từ quặng rồi chuyển sang lò rèn để làm nông cụ và đồ dùng. Báo Đà Nẵng ghi dấu tích xóm Chợ Lò nay thuộc xã Chiên Đàn (trước 7/2025: xã Tam Thái, huyện Phú Ninh), nơi nghề thủ công từng khiến vùng này được gọi là “xứ lò rèn” [1].
Tên làng trong tư liệu
Bài báo dẫn địa bạ thời Gia Long, đầu thế kỷ 19, ghi Phú Xuân Trung với ranh giới giáp Phú Trà, Khánh Thọ, Trung Đàn và Trường Xuân [1]. Tên làng cũng xuất hiện trong *Phủ biên tạp lục* năm 1776; bài viết cho biết văn khế ruộng đất năm 1785 còn ghi tên Trường Xuân [1].
Theo tác giả, từ địa bạ thời Gia Long đến *Đồng Khánh địa dư chí* cuối thế kỷ 19 và trước năm 1945, Phú Xuân Trung xuất hiện như một làng xã độc lập; ông chưa tìm thấy tư liệu cho thấy làng từng sáp nhập vào nơi khác [1]. Đây là kết quả khảo cứu được nêu trong bài, không phải kết luận dựa trên toàn bộ hồ sơ làng xã [1].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng viết rằng làng Trường Xuân ban đầu mang tên Trường Xuân, đời Quang Trung đổi thành Phú Xuân Trung, rồi năm Tự Đức thứ 24 (1871) lại gọi là Trường Xuân [1]. Tác giả bài báo lưu ý chưa rõ nhận định ấy dựa vào tư liệu nào; ông đối chiếu rằng Trường Xuân và Phú Xuân Trung đã cùng xuất hiện trong các ghi chép năm 1776, 1785 và địa bạ Gia Long [1]. Vì vậy, nguồn này trình bày hai cách lý giải tên làng, chưa giải quyết dứt điểm khác biệt [1].
Một xứ luyện sắt và rèn nông cụ
Theo lời kể của ông Trần Ngọc Lân được bài báo dẫn, đất làng phần lớn là gò đồi, hẹp và cằn cỗi; người dân dựa vào luyện sắt, rèn để sinh sống [1]. Phía nam làng có núi Quánh, nơi dân khai quặng rồi bán cho các chủ lò luyện [1].
Lò luyện có dạng như lò nung vôi nhưng lớn hơn, phần mặt giống một chiếc phễu cạn. Người thợ xếp xen kẽ than và quặng sắt, dùng luồng hơi thổi cho than cháy và nung chảy quặng [1]. Sau hơn hai ngày đêm, họ lấy phần sắt đông thành mảng, ghè mỏng rồi cuộn thành “con sắt” để chuyển đến lò rèn [1].
Các lò rèn biến phôi thành nông cụ và đồ dùng gia đình. Người làng gánh sản phẩm đi bán hoặc đổi lấy lúa khoai ở các vùng Tam Kỳ, Tiên Phước, An Tân và giáp Quảng Ngãi [1]. Bài báo ghi lại câu vè mô phỏng nhịp búa và tiếng tôi sắt, kết bằng ý làm lụng vất vả mà vẫn nghèo [1].
Nghề cũ phai dần
Đầu thế kỷ 20, sắt tinh luyện do người Pháp đưa vào thuộc địa cạnh tranh với sản phẩm thủ công. Theo bài báo, phôi luyện tại chỗ có nhiều tạp chất, dễ vỡ và kém bền; chính quyền thực dân cũng cấm lò luyện kiểu cũ, buộc lò rèn mua phôi sắt nhập [1]. Nghề luyện sắt ở Phú Xuân Trung vì thế suy tàn dần [1].
Bài viết nhận xét dấu vết còn lại của nghề cũ là tên Chợ Lò và cách gọi người dân là “dân xứ lò rèn” [1]. Địa bàn làng xưa gắn với xã Chiên Đàn; khu vực Phú Ninh cũ nay còn có xã Phú Ninh [1]. Để đọc rộng hơn về làng xã vùng Tam Kỳ, có thể xem làng xã Tam Kỳ xưa và Tam Kỳ; về nghề rèn ở địa phương khác trong thành phố, xem nghề rèn Hội An và các làng nghề truyền thống Đà Nẵng.
Tra cứu liên quan
- Địa bàn: xã Chiên Đàn, xã Phú Ninh
- Làng xã và nghề thủ công: làng xã Tam Kỳ xưa, nghề rèn Hội An, làng nghề truyền thống Đà Nẵng
Điều còn chưa rõ
- Lý giải của Nguyễn Q. Thắng về việc đổi tên Trường Xuân – Phú Xuân Trung – Trường Xuân chưa nêu tư liệu nền; tác giả bài báo cho rằng hai tên làng đã cùng tồn tại trong tư liệu sớm hơn [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Chưa có khảo sát độc lập trong nguồn về vị trí, quy mô còn lại của lò luyện và xóm Chợ Lò [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Nguồn chỉ ghi tên khu vực cũ là xã Tam Thái, Phú Ninh; phần địa chỉ hiện nay quy đổi theo bảng đơn vị hành chính được yêu cầu đối chiếu [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Làng Phú Xuân Trung xưa”, 26/02/2023, https://baodanang.vn/lang-phu-xuan-trung-xua-3053441.html, truy cập 23/10/2026.