Vách đá có khắc chữ cổ nằm bên bờ sông A Vương tại bản Achia thuộc thôn Nal (trước 7/2025: xã Lăng, huyện Tây Giang; nay thuộc xã Tây Giang) [1][2]. Ba bản khắc này từng được người Pháp ghi nhận từ năm 1938 nhưng phần lớn văn tự vẫn chìm dưới nước và chưa được giải mã trọn vẹn [2]. Hiện nay, các chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa vẫn còn những nhận định khác nhau về niên đại cũng như loại văn tự được khắc trên vách đá [1][2].
Hiện trạng vách đá ở bản Achia
Khu vực có văn khắc nằm tại bản Achia, một cụm dân cư nhỏ của thôn Nal thuộc xã Lăng cũ, nằm lưng chừng núi A Vương trên dãy Trường Sơn gần biên giới với Lào [2]. Để tiếp cận địa điểm này từ trung tâm xã Lăng cũ, người đi phải cắt rừng và lội qua nhiều dòng nước xiết trong khoảng một giờ đồng hồ [2].
Tại khu vực vách đá, dòng chảy thượng nguồn sông A Vương đi qua một bãi đất tương đối phẳng lặng [2]. Vách đá cao khoảng 7 m tính từ mặt nước, chưa kể phần chân vách ngập sâu chừng 3 m dưới dòng suối [2]. Theo già làng Bhriu Clói kể lại, vào mùa khô dù nhiều đoạn suối thượng nguồn A Vương cạn trơ đáy nhưng ngay tại chân vách đá nước vẫn luôn dâng đầy [2].
Vách đá gồm ba tấm đá liền nhau có khắc chữ viết [2]. Do phần lớn mặt đá bị chìm sâu dưới nước, chỉ còn khoảng bốn dòng chữ nổi lên phía trên mặt nước với các ký tự tượng hình [2]. Theo lời kể của người dân địa phương, dân bản tin rằng có thần linh trú ngụ tại cây ở khu vực này và thanh niên trong bản thường xuyên bảo vệ khu vách đá [2].
Ghi nhận từ năm 1938 và khảo sát của các chuyên gia
Năm 1938, trong bài viết công bố trên tạp chí Những người bạn Huế, một viên quan ba người Pháp chuyên nghiên cứu văn hóa người Cơ Tu tên là Le Pichon đã nhắc tới di tích này [2]. Le Pichon từng dựng chòi nghiên cứu tại bờ suối và gọi đây là văn khắc trên đá ở Samo, đặt theo tên một đồn do ông lập tại khu vực [2].
Theo nhóm nghiên cứu của chuyên gia văn hóa Champa Nguyễn Thượng Hỷ, ba bản khắc ở Samo được ký hiệu lần lượt là A, B và C [2]. Nhóm khảo sát bước đầu nhận diện nội dung một số từ ngữ: – Bản A dành cho nghi lễ hiến tế, có chứa các từ chỉ châu báu, ngọc trai và từ chỉ con trâu [2]. – Bản B xuất hiện từ “Ya”, trong tiếng Chăm cổ có nghĩa là thần hoặc thánh [2]. – Bản C ghi danh mục cùng số lượng đồ hiến tế, lặp lại từ có thể là trâu (“kabav”) [2].
Khác với các bia ký Chăm cổ thông thường ở miền Trung, cả ba bản văn khắc tại đây đều không nêu danh tính của vị vua hay vị thần chủ được tôn vinh như thần Siva [2]. Theo nhà nghiên cứu Daoruang Wittayarat, ba bản khắc này nằm bên bờ sông A Vương, một nhánh thuộc lưu vực sông Thu Bồn, nằm trên lộ trình kết nối khu di tích thánh địa Mỹ Sơn với vùng thung lũng sông Mê Kông tại Wat Phou (tỉnh Champasak, Nam Lào) [2].
Ông Nguyễn Chí Toàn, Trưởng phòng Văn hóa thông tin huyện Tây Giang cũ, cho biết cơ quan chức năng địa phương từng gửi bản rập văn khắc đến các chuyên gia trong nước và các nhà nghiên cứu tại Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc nhưng chưa thể giải mã toàn văn [2].
Nhận định khác nhau về niên đại và loại chữ
Tư liệu từ các bài báo ghi nhận sự khác biệt lớn giữa các nhà nghiên cứu về loại chữ và thời điểm tạo tác văn khắc [1][2].
Nhóm nghiên cứu của ông Nguyễn Thượng Hỷ cho rằng các dòng chữ khắc trên đá là chữ Chăm cổ [2]. Dựa vào các từ dịch được như trâu và châu báu, ông Hỷ đưa ra giả thuyết văn khắc có thể liên quan đến sự giao thương, trao đổi lễ vật giữa người Chăm với người Cơ Tu trên tuyến đường buôn bán muối cổ xưa [2]. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh đây mới chỉ là phỏng đoán do số lượng từ dịch được còn rất ít [2].
Trong khi đó, theo Báo Đà Nẵng, sau khi có Quyết định 3029/QĐ-UBND ngày 18/12/2024 của UBND tỉnh Quảng Nam đưa địa điểm vào danh mục bảo vệ, huyện Tây Giang đã tổ chức đoàn công tác đưa các chuyên gia chữ Phạn cổ lên khảo sát nguồn sông A Vương [1]. Tại đợt làm việc này, Tiến sĩ Jaya Thiên (nhà nghiên cứu văn hóa từ Ninh Thuận) nhận định văn khắc có niên đại khoảng từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 7 [1]. Tiến sĩ Jaya Thiên cho biết văn khắc bao gồm chữ của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer (Ka-Tu/Cơ-Tu, Bahnar/Ba-Na, Khmer…), ngôn ngữ Mã Lai – Đa đảo (ngữ hệ Nam Đảo) và cả chữ Phạn cổ [1]. Bài báo cũng nhắc tới mối liên hệ giữa các văn khắc này với tuyến giao thương muối nối vùng biển, thương cảng sầm uất phố cổ Hội An và Đà Nẵng vào khoảng thế kỷ 9 đến thế kỷ 10 với miền núi sang Lào, Thái Lan và Ấn Độ [1].
Theo ông Arất Blúi, Phó Chủ tịch UBND huyện Tây Giang cũ, cuộc khảo sát nhằm xác định niên đại và nội dung văn bia, làm cơ sở hoàn thiện hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia đặc biệt [1].
Tra cứu liên quan
- Đơn vị hành chính: xã Tây Giang, Đà Nẵng sau sáp nhập.
- Cư dân bản địa: người Cơ Tu.
- Sông ngòi và công trình lân cận: sông Thu Bồn, thủy điện A Vương.
- Di sản văn hóa liên quan: thánh địa Mỹ Sơn, Bảo tàng Điêu khắc Chăm.
- Thương cảng vùng hạ lưu: phố cổ Hội An.
Điều còn chưa rõ
- Niên đại tạo tác: Tiến sĩ Jaya Thiên nhận định niên đại khoảng từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 7 [1], trong khi bài báo năm 2016 chỉ viết chữ “có từ ngàn xưa” [2]; mốc thế kỷ 9 – 10 trong bài [1] là thời thương cảng Hội An, Đà Nẵng sầm uất, không phải niên đại văn khắc [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Loại văn tự: nhà nghiên cứu Nguyễn Thượng Hỷ nhận định là chữ Chăm cổ [2], trong khi Tiến sĩ Jaya Thiên cho rằng văn khắc gồm cả chữ Phạn cổ, chữ nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer và ngôn ngữ Mã Lai – Đa đảo [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Nội dung văn bản trọn vẹn: phần lớn vách đá bị ngập nước khoảng 3 m; giới chuyên môn chỉ mới đọc được một số từ đơn lẻ ở phần nổi [2] [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tiến độ xếp hạng di tích: hồ sơ đề nghị công nhận di tích cấp tỉnh và cấp quốc gia đặc biệt theo kế hoạch khảo sát năm 2024 – 2025 [1] hiện chưa có văn bản công bố kết quả chính thức [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Bí ẩn chữ cổ khắc trên đá nơi nguồn sông A Vương”, https://baodanang.vn/bi-an-chu-co-khac-tren-da-noi-nguon-song-a-vuong-3151896.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Tiền Phong, “Kỳ bí văn tự cổ trên vách đá giữa đại ngàn Trường Sơn”, 01/10/2016, https://tienphong.vn/ky-bi-van-tu-co-tren-vach-da-giua-dai-ngan-truong-son-post905458.tpo, truy cập 23/10/2026.