Danh xưng Cẩm Lệ đã tồn tại hàng trăm năm trong thư tịch cổ, ban đầu là tên một ngôi làng, sau gắn liền với bến đò, dòng sông và tên các đơn vị hành chính [1]. Về nguồn gốc ngữ nghĩa, các nhà nghiên cứu Hán Nôm và địa phương đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau, từ cách hiểu tự dạng chữ Hán đến các câu chuyện truyền khẩu trong dân gian [1][2].
Xuất hiện trong thư tịch và văn bia cổ
Theo nhà nghiên cứu Võ Văn Thắng trên Báo Đà Nẵng, danh xưng Cẩm Lệ được ghi nhận sớm nhất trong sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An biên soạn vào khoảng giữa thế kỷ XVI [1]. Thời điểm đó, Cẩm Lệ là tên một xã thuộc huyện Điện Bàn của xứ Thuận Hóa [1]. Đến năm 1604, chúa Nguyễn Hoàng chuyển huyện Điện Bàn thuộc phủ Triệu Phong từ xứ Thuận Hóa nhập vào xứ Quảng Nam, nâng Điện Bàn lên cấp phủ quản 5 huyện; từ đây xã Cẩm Lệ thuộc về huyện Hòa Vang [1] (xem thêm tên gọi Hòa Vang).
Dấu tích cổ tại địa phương còn được lưu lại qua văn bia chùa Linh Sơn [1]. Bản dập lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho thấy ngôi chùa này từng có văn bia niên hiệu Dương Hòa thứ 9 (năm 1603) và văn bia “Hưng Sùng Phật Pháp” lập năm Khánh Đức thứ 6 (năm 1654) [1]. Văn bia năm 1654 khắc rõ dòng chữ: “Đại Việt quốc, Quảng Nam xứ, Điện Bàn phủ, Hòa Vang huyện, Cẩm Lệ xã”, ghi việc người dân cúng dường đất ruộng ở hai xã Hóa Khuê và Cẩm Lệ; hiện nay chùa Linh Sơn không còn [1].
Bước sang đầu thế kỷ XIX, Địa bạ triều Nguyễn xác định Cẩm Lệ là một xã thuộc tổng Thanh Quýt Trung, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn [1]. Địa bàn xã lúc đó nằm chủ yếu ở bờ nam sông Cẩm Lệ, có ranh giới: đông giáp xã Lỗ Giản và sông, tây giáp xã Phong Lệ, nam giáp xã Miêu Bông, bắc giáp sông [1]. Đến cuối thế kỷ XIX, cư dân địa phương khai khẩn phần đất gò đồi, trảng cát ở bờ bắc con sông, phát triển trồng thuốc lá, lập chợ và hình thành khu dân cư [1].
Bến đò trên đường thiên lý và thương hiệu địa phương
Nhờ nằm ở vị trí bến đò ven sông trên trục đường thiên lý bắc nam, Cẩm Lệ trở thành địa điểm trao đổi, mua bán của khu vực [1]. Sách Hoàng Việt nhất thống địa dư chí do Lê Quang Định biên soạn thời Gia Long ghi chép quãng đường từ quán nghỉ ở dinh trấn Thanh Chiêm ra bắc 9.667 tầm đến bờ nam sông Cẩm Lệ; từ đông điếm Cẩm Lệ đi 3.381 tầm đến chợ Hải Châu; và từ bắc điếm Cẩm Lệ đi 100 tầm đến địa phận xã Hóa Khuê [1]. Cuối thế kỷ XVIII, bản đồ trong sách Quảng Thuận đạo sử tập của Nguyễn Huy Quýnh cũng ghi nhận “bến đò Cẩm Lệ, tục gọi là Ba Đò” [1].
Vị trí ngã ba giao thông thủy bộ khiến danh xưng Cẩm Lệ được gắn với các sản vật địa phương [1]. Thuốc lá trồng tại Cẩm Lệ và các làng lân cận như Đông Phước, Nghi An, Phong Lệ, Thanh Quýt đều tập trung về đây trước khi chuyển đi các nơi tiêu thụ [1]. Từ đầu thế kỷ XX, dù danh xưng Cẩm Lệ không còn là tên của đơn vị hành chính nào lúc bấy giờ, tên gọi này vẫn gắn với khu vực trung tâm huyện Hòa Vang, rồi gắn với nghề làm bánh khô mè Cẩm Lệ [1]. Đến năm 2005, Cẩm Lệ được chọn làm tên một quận của thành phố Đà Nẵng (trước 7/2025: quận Cẩm Lệ), nay thuộc địa bàn phường Cẩm Lệ [1].
Các giả thuyết về ngữ nghĩa tên gọi
Về mặt văn tự chữ Hán, hầu hết các tài liệu cổ như Ô Châu Cận Lục, Phủ Biên Tạp Lục, Hoàng Việt Nhất Thống Địa Dư Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí và Hòa Vang Huyện Chí đều viết danh xưng này bằng hai chữ 錦茘 [1]. Trong đó, chữ Cẩm (錦) có nghĩa là gấm vóc; còn chữ Lệ (茘) chỉ cây vải [1]. Riêng một bản đồ trong sách Quảng Thuận Đạo Sử Tập chép bằng tự dạng 錦麗, với chữ Lệ (麗) mang nghĩa là đẹp [1]. Tại khu dân cư Phong Bắc (trước 7/2025: phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ; nay thuộc phường Cẩm Lệ), tác giả Võ Văn Thắng ghi nhận trong vườn một số hộ dân vẫn còn những cây vải cổ thụ, có thể là dấu vết thực vật gắn với địa danh xưa [1].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Sinh Duy cũng cho rằng Cẩm Lệ chỉ trái vải có da màu đỏ sẫm như gấm (chữ Cẩm nghĩa là gấm, Lệ là viết tắt của lệ chi – cây vải) [2]. Theo ông, trước đây cả vùng trồng giống vải thiều này, tên quả trở thành tên làng rồi mới chuyển thành tên sông [2]. Ngược lại, nhà nghiên cứu Ngô Văn Lại ở Hòa Thọ Đông cũ đồng tình với giả thuyết Cẩm Lệ là cách gọi giống khổ qua da đen trồng ở vùng đất bồi phù sa phía thượng nguồn, mang bán ở bến đò rồi dần trở thành tên sông và tên làng [2].
Ngoài ra, dân gian lưu truyền một số câu chuyện giải thích nguồn gốc [2]. Một bài viết năm 2010 trên báo địa phương dẫn tương truyền về người con gái tên Cẩm nhảy sông tự vẫn vì chuyện tình duyên, người đi qua nhỏ lệ khóc thương nên gọi là Cẩm Lệ; tuy nhiên Báo Đà Nẵng nhận định đây là lối diễn giải khiên cưỡng theo kiểu nhìn mặt chữ [2]. Một tài liệu khác năm 2007 dẫn truyền thuyết năm Đinh Mùi 1367 thời vua Trần Dụ Tông, có vị tướng họ Phan mang tước Cẩm Ba Hầu qua đời tại đây khi cùng quân Đại Việt vào nam khai phá, từ đó sông được gọi là Cẩm Giang, rồi đến năm 1470 thời Lê Thánh Tông mang tên “Cẩm giang Lệ thủy” [2].
Tra cứu liên quan
- Đơn vị hành chính: phường Cẩm Lệ
- Địa danh sông: sông Cẩm Lệ
- Ẩm thực gắn liền tên gọi: bánh khô mè Cẩm Lệ
- Trạm dừng đường thiên lý: dinh trấn Thanh Chiêm
- Tên gọi khác cùng khu vực: tên gọi Hòa Vang, tên gọi Thanh Khê
Điều còn chưa rõ
- Năm lập văn bia Dương Hòa thứ 9: bài báo ghi tương ứng năm 1603, nhưng niên hiệu Dương Hòa của triều Lê thuộc thế kỷ XVII, cần khảo chứng lại niên đại chính xác của văn bia [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Truyền thuyết về tướng Cẩm Ba Hầu tử trận năm 1367 và sự tích người con gái tên Cẩm là các ghi chép dân gian, chưa có chính sử phối kiểm [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Nguồn gốc tên gọi bắt nguồn từ quả vải thiều vỏ đỏ hay giống khổ qua da đen chưa có ý kiến thống nhất giữa các nhà nghiên cứu [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Bóng dáng lịch sử qua danh xưng Cẩm Lệ”, 05/04/2025, https://baodanang.vn/bong-dang-lich-su-qua-danh-xung-cam-le-3237350.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Xuất xứ của địa danh Cẩm Lệ”, 21/03/2010, https://baodanang.vn/xuat-xu-cua-dia-danh-cam-le-3226713.html, truy cập 23/10/2026.