Làng Hóa Khuê Đông vốn tách ra từ làng cổ Hóa Khuê ghi trong sách Ô Châu cận lục hồi giữa thế kỷ 16 [1]. Vùng đất này (trước 7/2025: các phường Khuê Mỹ, Hòa Hải và Hòa Quý, quận Ngũ Hành Sơn) nay thuộc phường Ngũ Hành Sơn [1]. Nơi đây lưu giữ nhiều di tích như miễu Một Cây Da Quỳ, chùa Từ Vân, đình làng Hóa Khuê Đông cùng nơi yên nghỉ của Quản Điều Nguyễn Văn Diêu [1].
Diễn biến tên gọi và địa giới qua các thời kỳ
Theo bài báo trên Báo Đà Nẵng, Hóa Khuê là một trong 66 làng cổ ở Điện Bàn được Tiến sĩ Dương Văn An chép trong sách “Ô Châu cận lục” vào giữa thế kỷ 16 [1]. Về sau, làng Hóa Khuê tách thành hai làng là Hóa Khuê Tây (tức Khuê Trung) và Hóa Khuê Đông (tức Khuê Mỹ) [1]. Khuê Trung (trước 7/2025: phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ) nay thuộc phường Cẩm Lệ; xem thêm hội làng Khuê Trung.
Địa giới và tên gọi của làng Hóa Khuê Đông trải qua nhiều mốc thay đổi theo ghi chép lịch sử [1]: – Ngày 15/1/1901, theo đạo dụ của vua Thành Thái, làng Hóa Khuê Đông trở thành làng Quế Đông thuộc tổng An Lưu, huyện Hòa Vang [1]. – Từ năm 1947, Quế Đông đổi lại thành Hóa Khuê Đông thuộc xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, trong khi Hóa Khuê Tây thuộc khu nam thành phố Đà Nẵng [1]. – Thời kỳ 1954 – 1975, dưới thời Việt Nam Cộng hòa, Hóa Khuê Đông thuộc xã Hòa Hải, còn Hóa Khuê Tây thuộc xã Hòa Thuận, cả hai đều thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam [1]. – Sau năm 1975, Hóa Khuê Tây trở thành phường Khuê Trung, còn Hóa Khuê Đông (Quế Đông) vẫn thuộc các xã Hòa Hải và Hòa Quý, huyện Hòa Vang [1]. – Năm 1997, khi chia tách tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính, Quế Đông trực thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn [1]. – Từ ngày 2/3/2005, vùng đất này thuộc các phường Khuê Mỹ và Hòa Hải của quận Ngũ Hành Sơn cũ [1]. Bài báo cho biết quận Ngũ Hành Sơn cũ gồm bốn phường Mỹ An, Khuê Mỹ, Hòa Hải, Hòa Quý thì phần lớn diện tích là đất Hóa Khuê Đông cũ [1].
Miễu Một Cây Da Quỳ và chuyện Chuyển vận sứ Nguyễn Phục
Trên địa bàn Hóa Khuê Đông có di tích miễu Một Cây Da Quỳ, dân gian gọi là Miễu thờ Tam vị [1]. Nơi đây được cho là đền thờ Tiến sĩ Nguyễn Phục, người phụ trách Chuyển vận sứ trong đoàn quân Nam chinh của vua Lê Thánh Tông vào năm 1471 [1].
Theo lời kể và dẫn lại nghiên cứu của Nguyễn Phước Tương trên bài báo, Nguyễn Phục được vua cử lo việc chuyển quân lương phục vụ chiến dịch đánh vào thành Đồ Bàn của người Chiêm [1]. Trên đường đi, đoàn thuyền chở lương gặp bão nên phải nằm lại ở cửa Tư Hiền tại Thừa Thiên Huế [1]. Khi đến Đà Nẵng, đoàn thuyền bị trễ mất 10 ngày, vua Lê Thánh Tông ra lệnh hành hình ông để giữ nghiêm quân pháp [1]. Khi biết đó là việc oan do bão gió, nhà vua ra lệnh hoãn xử nhưng lệnh đến nơi thì án xử đã thực hiện xong [1].
Đình làng, chùa Từ Vân và di chỉ vườn đình Khuê Bắc
Bên cạnh miễu Một Cây Da Quỳ, làng Hóa Khuê Đông có ngôi đình làng vừa được phục dựng cùng ngôi chùa cổ Từ Vân vẫn tồn tại qua những năm tháng chiến tranh [1]. Gần miễu Một là đình làng Khuê Mỹ (còn được gọi là đình Khuê Bắc) [1]. Đình nằm sát chân núi Kim Sơn trong quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn, tựa lưng vào hòn Tiểu Hổ Sơn và xây bên dòng sông Cổ Cò theo kiến trúc 5 gian lối “tiền phong hậu tẩm” [1]. Trong khuôn viên đình còn có miếu Tam vị, miếu bà Còng và giếng Mọi [1]. Theo văn bia chữ quốc ngữ và lời kể, đình trước đây làm bằng vật liệu đơn sơ, đến đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) được xây lại kiên cố, hậu tẩm thờ thần hoàng bổn xứ, hai gian tả hữu thờ các vị tiền hiền quy dân lập ấp [1]. Ngày 14/12/2010, UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số 9726/QĐ-UBND xếp hạng đình Khuê Bắc là di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố [1]. Hằng năm đình tổ chức hai lễ chính là Tế Xuân ngày 20/3 âm lịch và Tế Thu ngày 20/8 âm lịch [1].
Khuôn viên đình cũng là địa điểm khảo cổ di chỉ vườn đình Khuê Bắc [1]. Di chỉ được cố Giáo sư Trần Quốc Vượng chủ trì khảo cổ năm 2001, tiếp tục khai quật năm 2015 và khai quật lần 3 vào tháng 5/2017 trên diện tích 50 m2 [1]. Theo Tiến sĩ Phạm Văn Triệu thuộc Viện Khảo cổ học được bài báo dẫn lời, di chỉ có tầng văn hóa thời kỳ tiền Sa Huỳnh niên đại 2.500 – 3.000 năm (hoặc 3.000 – 3.500 năm theo các tài liệu khảo cổ khác được bài báo nêu) chứa các công cụ đá, rìu đá, đá nguyên liệu làm trang sức cùng mảnh gốm, và tầng văn hóa Chămpa nằm ở lớp trên [1].
Quản Điều Nguyễn Văn Diêu trong ký ức địa phương
Tác giả bài báo ghi lại lời kể của các bậc cao niên địa phương nhân dịp khánh thành lăng mộ ngài Nguyễn Văn Diêu [1]. Nguyễn Văn Diêu vốn là một người nông dân, sau trở thành Chánh quản cơ hương binh [1]. Nhờ chiếc khăn điều bất ly thân do thủ lĩnh Nguyễn Duy Hiệu tặng, ông được người dân gọi là Quản Điều [1].
Trong phong trào Nghĩa hội Quảng Nam giai đoạn 1885 – 1887, ông tham gia chiến đấu chống quân Pháp ở vùng Đà Nẵng [1]. Ông từng nhiều lần dẫn quân đốt chợ Hà Thân nhằm triệt phá nguồn hậu cần của quân Pháp [1]. Về sau, ông bị quân Pháp vây bắt, xử chém và bêu đầu tại chính chợ Hà Thân [1]. Theo bài báo, dân làng thờ ông như một trong hai nhân thần của làng [1]. Tác giả bài báo liên hệ tên gọi Quản Điều với câu ca dao “Nhớ người quân tử khăn điều vắt vai” [1].
Tra cứu liên quan
- Nhóm: phường Ngũ Hành Sơn, Ngũ Hành Sơn, sông Cổ Cò, hội làng Khuê Trung
- Nhân vật và di chỉ: Nguyễn Duy Hiệu, chợ Hà Thân, di chỉ vườn đình Khuê Bắc, phường Cẩm Lệ
Điều còn chưa rõ
- Danh tính vị nhân thần thứ hai của làng Hóa Khuê Đông; bài báo chỉ nhắc Quản Điều là một trong hai nhân thần mà không nêu vị còn lại [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại xây dựng ban đầu của chùa cổ Từ Vân và thời điểm phục dựng đình làng Hóa Khuê Đông chưa được bài báo ghi rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại tầng văn hóa tiền Sa Huỳnh tại vườn đình Khuê Bắc có chênh lệch giữa công bố của Viện Khảo cổ học (2.500 – 3.000 năm) và số liệu khảo cổ chung trong bài (3.000 – 3.500 năm) [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Bài báo dùng song song cả tên “đình làng Khuê Mỹ” và “đình Khuê Bắc”, cần đối chiếu thêm hồ sơ xếp hạng di tích để làm rõ danh xưng chuẩn [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Hóa Khuê Đông – quê hương Quản Điều”, 21/11/2021, https://baodanang.vn/hoa-khue-dong-que-huong-quan-dieu-3064166.html, truy cập 23/10/2026.