Trong làng xã xứ Quảng truyền thống, bên cạnh pháp luật còn có các quy ước do cộng đồng lập ra nhằm duy trì trật tự và nếp sống chung [1]. Văn bản này thường được gọi là hương ước, khoán ước, lệ làng hoặc điều lệ [1]. Các điều khoản phản ánh quá trình khai hoang, lập nghiệp và tổ chức tự quản của các thế hệ cư dân trên vùng đất mới [1].
Nhu cầu tự quản của cư dân vùng đất mới
Theo bài báo trên Báo Đà Nẵng, một bộ phận quan trọng cư dân người Việt ở xứ Quảng có nguồn gốc từ những đợt di dân về phương Nam kéo dài nhiều thế kỷ từ Thanh – Nghệ – Tĩnh và đồng bằng Bắc Bộ [1]. Khi đến vùng đất mới, các nhóm lưu dân giao lưu với cộng đồng bản địa, cùng nhau lập làng, khai khẩn đất đai, làm thủy lợi, chống thiên tai và bảo vệ an ninh [1].
Hương ước ra đời từ chính nhu cầu tự quản đó, nhằm bổ sung những quy định cụ thể mà luật pháp triều đình khó bao quát hết [1]. Những quy ước này xác lập nguyên tắc về nghĩa vụ, cách ứng xử và trách nhiệm của mỗi thành viên đối với tập thể [1]. Về mặt văn tự, hương ước thời phong kiến được ghi bằng chữ Hán – Nôm; đến thời Pháp thuộc xuất hiện thêm chữ Quốc ngữ bên cạnh chữ Hán – Nôm; còn trong giai đoạn hiện nay văn bản tự quản ở địa phương chủ yếu dùng chữ Quốc ngữ [1]. Tư liệu của bài báo đưa ra hình ảnh “Mười điều lệ làng Cẩm Phô” do Nguyễn Tường Tiếp sơ thảo [1].
Các nội dung điều chỉnh trong đời sống làng xã
Nội dung hương ước xứ Quảng bao quát nhiều mặt đời sống, từ nghi lễ đến sinh hoạt thường nhật [1]:
- Tế lễ: Các quy định cúng tế thể hiện ý thức hướng về cội nguồn, tưởng nhớ các bậc tiền nhân khai phá làng xã theo đạo lý “uống nước nhớ nguồn” [1].
- Hôn nhân và tang ma: Việc cưới hỏi hay tang lễ được xem là việc chung của gia đình, tộc họ và xóm giềng, gắn với đạo hiếu, sự thăm hỏi và chia sẻ hoạn nạn [1].
- Ứng xử cộng đồng: Đặt ra chuẩn mực kính trọng người cao tuổi, giữ hòa khí làng xóm, giúp đỡ người khó khăn và chê trách hành vi gây mất đoàn kết [1]. Theo tác giả bài báo, hoàn cảnh nương tựa nhau sản xuất và ứng phó thiên tai đã góp phần hình thành tính cách người xứ Quảng thẳng thắn, cương trực và trọng nghĩa tình [1].
- Khuyến học: Nhiều làng xem việc học hành đỗ đạt là niềm tự hào chung của cộng đồng [1]. Làng có hình thức biểu dương người đỗ đạt, xưa kia từng tổ chức võng kiệu nghênh đón người vinh quy [1].
- Bảo vệ tài sản và công trình chung: Đặt ra trách nhiệm giữ gìn đường sá, giếng nước, đình làng, ruộng đất công và hệ thống công trình phục vụ sản xuất [1]. Nguyên tắc là quyền lợi cá nhân gắn liền với nghĩa vụ đối với làng [1].
Những điểm không còn phù hợp và việc kế thừa
Tác giả bài báo chỉ ra rằng hương ước truyền thống cũng chứa đựng những quy định không còn phù hợp với thời đại, như phân biệt thứ bậc, tư tưởng trọng nam, thủ tục nghi lễ rườm rà, tốn kém hoặc những hình thức xử phạt mang tính áp đặt [1]. Vì xã hội hiện đại vận hành trên nền tảng pháp luật và bình đẳng, tác giả cho rằng không nên sao chép khuôn phép cũ mà cần kế thừa các giá trị tương trợ, khuyến học, giữ gìn gia phong qua những hình thức mới như xây dựng gia đình văn hóa, dòng họ hiếu học hay khu dân cư văn minh [1].
Tra cứu liên quan
- Tra thêm: văn tế trong lễ tục xứ Quảng.
- Nghiên cứu văn bản: gia phả xứ Quảng, văn bia Hán Nôm xứ Quảng, tiền hiền trong văn bia Quảng Nam
- Không gian văn hóa làng: đình Hải Châu, đình Túy Loan, văn chỉ La Châu
Điều còn chưa rõ
- Niên đại cụ thể của bản “Mười điều lệ làng Cẩm Phô do Nguyễn Tường Tiếp sơ thảo” chưa được bài báo nhắc tới [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Các hình thức xử phạt áp đặt cụ thể trong các bản hương ước cũ tại các làng xã xứ Quảng chưa được bài báo liệt kê chi tiết [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Hương ước – nếp làng xứ Quảng”, 04/10/2026, https://baodanang.vn/huong-uoc-nep-lang-xu-quang-3354101.html, truy cập 23/10/2026.