Ở miền núi Quảng Nam cũ, bếp lửa vừa là nơi sinh hoạt hằng ngày vừa gắn liền với đời sống tâm linh của các cộng đồng cư dân [1]. Dù đời sống vùng cao có nhiều chuyển biến, nhiều làng bản của người Ca Dong, người Cơ Tu hay người Xê Đăng vẫn duy trì bếp lửa và tục thờ Thần lửa [1].
Truyền thuyết và tín thức về Thần lửa
Theo truyền thuyết của người Ca Dong, thuở đất trời mới tạo lập chưa có lửa, con người phải ăn sống và chịu rét mùa đông [1]. Giàng báo mộng cho già làng rằng thế gian chỉ có con cáo sở hữu lửa nhưng ở nơi rất xa, nên già làng nhờ con ve bay đi xin [1]. Cáo đồng ý cho mồi lửa với điều kiện con ve phải nhắm mắt lại khi đánh lửa, nếu nhìn thấy sẽ mù mắt [1]. Do có mắt ở hai bên nách, con ve vẫn thấy cách cáo đánh lửa rồi bay về báo cho già làng truyền dạy lại cho con người; sau đó mắt con ve không còn nhìn thấy gì do lời nguyền [1].
Cùng với người Ca Dong, các dân tộc cận cư có ý thức tôn kính Thần lửa bên cạnh Thần lúa biểu thị sự no đủ [1]. Trong tiếng của người Cơ Tu, Thần lửa được gọi là Giàng Óih, được xem là hiện thân cho sự sinh tồn [1]. Người dân quan niệm bếp lửa như vị thần mang lại hạnh phúc, sự ấm no và che chở con người trước khó khăn, gian khổ [1].
Vị trí bếp và các kiêng kỵ trong nhà
Khi dựng xong nhà mới, việc đầu tiên của các gia đình vùng cao là rước Thần lửa vào nhà để cầu mong giữ lửa không tắt và mang lại may mắn [1]. Dù kiến trúc các tộc người có điểm khác nhau, bếp lửa thường được đặt bên cạnh cột thiêng ở gian giữa nhà và sát vách, nơi mặt trời không chiếu thẳng vào giữa bếp [1]. Ngay bên cạnh bếp treo một ống tre, là nơi trú ngụ của Thần lửa [1].
Bếp lửa là không gian trang trọng với nhiều điều kiêng kỵ theo luật tục [1]: – Khách đến làng được già làng mời ngồi bên bếp lửa tại nhà gươl, nhà rông hay nhà ưng để tiếp chuyện; khách không được gạt cời bếp hoặc gõ vào bếp vì hành vi này bị xem là làm tổn hại Thần lửa khiến thần nổi giận [1]. – Người ngồi bên bếp không được đặt chân lên mặt bếp hoặc xê dịch ống tre treo cạnh đó [1]. – Khi mang củi vào bếp không được dằn mạnh xuống nền, không bổ củi trong lòng bếp, không khạc nhổ xung quanh và không ngồi quay lưng về phía bếp [1]. – Quai nồi khi đặt nấu hằng ngày bắt buộc xoay theo chiều dọc của bếp; người dân chỉ đặt nồi theo chiều ngang khi gia đình có người qua đời, nếu ngày thường đặt ngang sẽ bị xem là bất kính với thần linh [1].
Ngoài việc nấu nướng, phía trên gác bếp người dân bắc các thanh cây ngang để cất giữ hạt giống, nông cụ, dụng cụ đi rừng, cùng các ống tre đựng thịt, cá khô, muối ớt và tiêu rừng dự trữ cho mùa giáp hạt [1]. Tại các chòi canh nương rẫy cũng dựng bếp lửa nhỏ để nấu ăn, giữ ấm và xua đuổi thú rừng [1]. Trước khi rời chòi, người dân vun tro than thành đụn rồi đặt hòn đá lên trên để báo hiệu nơi ngự trị của Thần lửa, nhắc người khác không giẫm đạp hay bước ngang qua [1].
Giữ lửa đầu năm và sinh hoạt cộng đồng
Tục giữ lửa vào dịp đầu năm mới được ghi nhận tại nhiều gia đình vùng trung du Tiên Phước (trước 7/2025: huyện Tiên Phước) và huyện Nam Trà My cũ [1]. Tại vùng trung du Tiên Phước, người dân giữ bếp đỏ lửa trong đêm giao thừa; sau 12 giờ đêm, thanh củi to nhất được ủ lại trong than tro để hơi ấm duy trì đến sáng mùng Một Tết [1]. Tại làng Lộc Yên (xã Tiên Cảnh cũ), các gia đình làm bánh mứt giữ lửa đỏ liên tục cả tháng trước Tết cho đến thời khắc chuyển giao năm mới [1].
Ở huyện Nam Trà My cũ, người Xê Đăng xem bếp lửa là nơi sưởi ấm trước giá lạnh và sum họp gia đình [1]. Thần lửa giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt hằng ngày cũng như các nghi lễ như lễ thổi tai, lễ cúng lúa mới [1]. Đêm giao thừa, các nhà giữ bếp cháy sáng; sáng mùng Một, mỗi gia đình cử một người đến nhà rông rước than lửa về châm vào bếp nhà mình cầu mong mùa màng thuận lợi [1].
Với người Cơ Tu, không gian bếp nhà sàn là nơi thế hệ trẻ học các nghề truyền thống: con trai học rèn rựa, rèn rìu, chạm thú lên cột, đàn abel, tập nói lý hát lý; con gái học dệt vải thổ cẩm và cách giữ lửa không tắt dưới sàn [1]. Tại làng Aur (trước 7/2025: thuộc xã A Vương, huyện Tây Giang), già làng kể bên bếp lửa nhà gươl về tục “nuôi chung” của người Cơ Tu, tức cách cả làng cùng đón tiếp khách lạ [1].
Chái củi và sự đổi thay trong nếp sống
Đối với các dân tộc như người Gié – Triêng (nhóm Bh’noong), Cơ Tu hay Xê Đăng, chái củi chất quanh nhà được xem là thước đo đức hạnh của phụ nữ [1]. Các thiếu nữ từ nhỏ đã theo mẹ lên rẫy tập bổ củi phẳng mặt, đều cây để mau bắt lửa [1]. Theo lời kể của một phụ nữ Bh’noong ở xã Phước Năng (trước 7/2025: huyện Phước Sơn), nhà gái xưa chỉ đòi sính lễ bằng củi: cô gái chậm, lười thì bốn mươi gùi, cô gái giỏi, siêng thì tám mươi đến một trăm gùi [1]. Trong gia đình chị, người chồng phát rẫy, hạ cây to, còn bổ củi là việc của phụ nữ [1].
Theo lời kể ấy, trước đây khi ở nhà sàn dài, người Bh’noong đặt bếp ở giữa nhà để các thành viên nằm ngủ quanh bếp, đưa chân vào sưởi ấm trong mùa lạnh [1]. Khi chuyển sang định canh định cư và làm nhà trệt vách thưa, việc bố trí bếp dưới đất khiến hơi ấm khó tỏa đều, nếp ngủ quây quần bên bếp củi dần thưa vắng trong đời sống thường nhật [1].
Tra cứu liên quan
- Dân tộc vùng cao: người Ca Dong, người Cơ Tu, người Gié – Triêng, người Co ở Trà My
- Không gian sinh hoạt: nhà gươl của người Cơ Tu, làng Aur
- Điểm đến trung du: làng Lộc Yên
Điều còn chưa rõ
- Bài báo chưa ghi nhận tên gọi Thần lửa trong tiếng của người Ca Dong, Xê Đăng hay Gié – Triêng ngoài danh xưng Giàng Óih của người Cơ Tu [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Các bài cúng và lễ vật cụ thể trong nghi thức rước Thần lửa từ nhà rông về nhà riêng vào sáng mùng Một Tết chưa được mô tả chi tiết trong nguồn [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Bếp lửa trong đời sống đồng bào vùng cao”, 17/01/2023, https://baodanang.vn/emagazine-bep-lua-trong-doi-song-dong-bao-vung-cao-3043563.html, truy cập 24/10/2026.