Các cộng đồng dân tộc thiểu số ở vùng rừng núi phía tây Đà Nẵng lưu giữ những quy tắc hôn nhân và nghi thức cưới xin riêng [1]. Từ việc tìm hiểu, trao kỷ vật đính ước đến tổ chức lễ cưới, mỗi nhóm người như Cơ Tu, Gié – Triêng, Xê Đăng, Ca Dong hay Co đều thực hành theo các luật tục riêng được lưu truyền qua nhiều thế hệ [1].
Người Cơ Tu: tìm hiểu qua đi sim và nguyên tắc hôn nhân
Cộng đồng người Cơ Tu cư trú chủ yếu tại các bản làng (trước 7/2025: các huyện Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang) [1]. Khi nam nữ đến tuổi trưởng thành, hai bên tự do tìm hiểu nhau qua tập tục đi sim (poọc su), qua những ngày hội làng hoặc các buổi lên nương rẫy [1]. Chàng trai thường bày tỏ tình cảm bằng cách tặng cô gái món quà làm kỷ niệm [1].
Ảnh minh họa của bài báo ghi cảnh những người già Cơ Tu làm nghi thức ném bông lúa trong đám cưới [1]. Dịp hôn lễ, hai bên gia đình thường đối đáp bằng các bài hát lý truyền thống hoặc tự sáng tác theo khung cảnh buổi lễ [1]. Hôn nhân của người Cơ Tu tuân thủ nguyên tắc ngoại tộc, dây chuyền và thuận chiều; con chú con bác và con dì con cậu không được kết hôn với nhau [1]. Chi tiết về các bước dạm hỏi và nghi lễ đưa dâu xem thêm bài về tục cưới xin của người Cơ Tu.
Người Gié – Triêng: củi hứa hôn và tiếng hát tự do
Nhóm người Gié – Triêng gồm các nhánh Ve (còn gọi là Gié, Lave), Tà Riềng (Triêng, Tà Liêng) và Bh’noong, cư trú chủ yếu ở vùng cao (trước 7/2025: các huyện Nam Giang, Phước Sơn) [1].
Ở nhóm người Ve, nam giới từ nhỏ đến lúc trưởng thành thường ra ngủ tại nhà Ơơng, trong khi nữ giới chỉ ra ngủ tại đây khi đã đến tuổi trưởng thành [1]. Nam nữ tìm hiểu nhau bằng tiếng kèn của chàng trai và lời ca của cô gái [1]. Bài ca bày tỏ quyền tự do kết đôi: “Tal nú sang boo hêi tự do đêê; Tal nú sang boo hêi tình yêu đêê”, nghĩa là đến mùa lúa trổ bông và bắp trổ cờ thì đôi bên tự quyết định hôn nhân (theo cuốn Những sự kiện lịch sử huyện Giằng) [1]. Tập tục chi tiết của nhánh này xem bài luật tục người Ve.
Nhánh người Bh’noong sinh sống chủ yếu ở vùng Phước Sơn (trước 7/2025: huyện Phước Sơn), theo chế độ một vợ một chồng và không thách cưới [1]. Để tiến tới hôn nhân, nam giới phải thành thạo việc đan lát, làm rẫy, săn bắn, chài lưới, dựng nhà; nữ giới phải biết dệt vải, làm rẫy, tuốt lúa, hái rau [1]. Đôi trẻ tặng nhau kỷ vật làm tin: nam tặng khuyên tai, chuỗi cườm, sợi chỉ đỏ thắt vòng tay bằng đồng hoặc bạc; nữ tặng túi xách tự đan [1]. Tín vật quan trọng nhất là củi hứa hôn qua lễ chuyển củi: nhà gái gùi củi sang nhà trai trước ngày cưới, được coi như nghi thức dạm hỏi đầu tiên [1].
Người Xê Đăng và Ca Dong: chén huyết gà và trầu cau chúc phúc
Người Xê Đăng cư trú ở vùng Nam Trà My (trước 7/2025: huyện Nam Trà My); theo bài báo, tục cưới của người Ca Dong cũng tương tự [1]. Khi đôi trẻ muốn kết hôn, nhà trai nhờ một già làng có uy tín làm người mai mối sang thăm dò ý kiến nhà gái [1]. Nếu nhà gái đồng thuận, hai bên tổ chức buổi gặp mặt cho đôi nam nữ [1]. Chàng trai trao chuỗi cườm, vòng tay hoặc vòng cổ cho cô gái làm tin; gia đình nhà gái cắt tiết một con gà trống tơ, chia chén tiết gà làm đôi bằng que nhỏ để chàng trai mang về một nửa [1].
Đêm sau lễ gặp mặt, đôi bên chú ý tới điềm chiêm bao: nếu mơ thấy nước hoặc trồng chuối là điềm lành có thể cưới; nếu mơ thấy cây đổ hoặc bị bắt cóc là điềm gở, phải hoãn hôn nhân [1]. Vào đêm tân hôn, hai gia đình cắt tiết gà trống tơ hòa với rượu, luộc gà mang vào buồng cho đôi vợ chồng trẻ uống rượu tiết và ăn thịt gà [1]. Đôi trẻ trao nhau 9 miếng trầu và 9 miếng cau với ý nghĩa chúc nhau dồi dào sức khỏe, sống hạnh phúc lâu dài [1]. Luật tục nghiêm cấm quan hệ tính giao trước hôn nhân cũng như hành vi ngoại tình hoặc ly hôn sau khi cưới; người vi phạm sẽ chịu các hình phạt nghiêm khắc từ buôn làng [1].
Người Co: trang phục lễ cưới và nghi thức đấu chiêng
Cộng đồng người Co ở Trà My cư trú ở vùng Bắc Trà My (trước 7/2025: huyện Bắc Trà My) [1]. Hôn lễ truyền thống của người Co trước đây diễn ra trong nhiều ngày, cô dâu và chú rể được chuẩn bị y phục và đồ trang sức mới [1]. Cô dâu đội nón nan do chính chú rể đan tặng, vai đeo gùi, tay cầm rựa cùng chiếc khăn tay gói mấy miếng trầu [1]. Chú rể mặc khố, choàng khăn, vai đeo gùi ba ngăn đựng gạo và rượu trắng, vác một thanh kiếm gỗ tượng trưng, đầu đội mũ lễ và đeo mấu tai bằng gỗ [1].
Trong ngày cưới, nghi thức đấu chiêng thu hút sự tham gia của dân làng: một người đánh chiêng vợ, một người đánh chiêng chồng đấu âm thanh với nhau, trong khi người thứ ba đánh trống để giữ nhịp và cổ vũ trận đấu [1].
Tra cứu liên quan
- Các tộc người miền núi: người Cơ Tu, người Gié – Triêng, người Ca Dong, người Co ở Trà My
- Tục lệ và luật tục: tục cưới xin của người Cơ Tu, luật tục người Ve
Điều còn chưa rõ
- Nơi cư trú của vợ chồng mới cưới (ở rể bên nhà gái, về nhà chồng hay làm nhà riêng) của từng tộc người không được bài báo nhắc đến [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Các hình phạt cụ thể của buôn làng đối với trường hợp vi phạm luật tục cấm quan hệ trước hôn nhân hay ngoại tình ở người Xê Đăng và Ca Dong [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Địa bàn thực hành tục cưới xin theo địa giới hành chính các xã mới hiện nay sau sáp nhập tháng 7/2025 [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Tục lệ cưới xin của tộc người thiểu số Quảng Nam”, 04/10/2020, https://baodanang.vn/tuc-le-cuoi-xin-cua-toc-nguoi-thieu-so-quang-nam-3027366.html, truy cập 24/10/2026.