Nong, nia, sịa, bủa, rổ, mủng, sàng là những đồ đan bằng nan tre quen thuộc trong nghề nông và nghề dâu tằm ở xứ Quảng [1]. Bài viết của tác giả Xuân Hiền trên Báo Quảng Nam năm 2023 kể về các vật dụng này qua những người còn nuôi tằm ở làng Lệ Bắc và thôn Chiêm Sơn, vùng ven sông Thu Bồn [1].
Hệ thống nông cụ tre đan trong đời sống xứ Quảng
Theo lời nhà nghiên cứu Trần Văn An được dẫn lại trên Báo Quảng Nam, khi kiểm đếm lại toàn bộ nông cụ truyền thống của người xứ Quảng, nguyên liệu chủ yếu làm nên chúng đều bắt nguồn từ cây tre [1]. Từ lũy tre bao quanh làng xóm, người nông dân đã tận dụng nguồn vật liệu sẵn có để đan lát ra hàng chục loại vật dụng phục vụ lao động hằng ngày [1].
Mỗi loại đồ tre đan đều được thiết kế phù hợp với một công đoạn canh tác cụ thể [1]. Người dân dùng sịa, rổ, mủng, nong, nia cho đến sàng để làm sạch hạt thóc, phơi khô nông sản hoặc chứa đựng nông phẩm thu hoạch [1]. Theo tác giả, có những vật dụng gắn với chuyện trồng trọt, thu hoạch như bội, lờ, và có những thứ gần như đã không còn thấy [1]. Trong cuốn sách “Văn minh vật chất của người Việt”, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng đã dành riêng một phần để khảo sát các vật dụng này, xem chúng là bằng chứng về cách con người lấy từ tự nhiên xung quanh để tạo tác nên đồ dùng phục vụ đời sống [1]. Nhà văn Nguyên Ngọc cũng nhận định đồ vật của người Việt phản ánh dáng vóc và nếp sinh hoạt, lao động thực tế của con người [1].
Nong, sịa và bủa trong nghề nuôi tằm
Tác giả nhớ tới chuyện đồ vật khi nhìn thấy những nong tằm xếp dày theo lớp lang trong các ngôi nhà dọc triền làng Lệ Bắc (trước 7/2025: xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên), nay thuộc xã Thu Bồn [1]. Theo bài báo, Lệ Bắc và Chiêm Sơn là quê hương của Bà Chúa Tàm Tang, nơi người dân vẫn cố gắn đời mình với nghề dâu tằm, dù chỉ còn làm một công đoạn nhỏ trong cả quá trình làm ra lụa [1].
Ông Nguyễn Nhất Tuấn ở thôn Chiêm Sơn (trước 7/2025: xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên), nay thuộc xã Duy Xuyên, sau nhiều năm chỉ ươm tơ, kéo sợi thì “năm ngoái” (theo bài báo năm 2023) dựng sịa và nuôi tằm thương phẩm trên những đồng dâu do HTX Duy Trinh giao lại [1]. Những chiếc sịa đã gãy nan được thay bằng những nong lớn gom về từ nhiều gia đình trong làng [1]. Suốt 20 ngày, ông Tuấn “ăn cơm đứng” bên nong tằm; mẻ tằm chín được bắc lên bủa để làm kén [1]. Ông dùng bội cùng vợ hái lá dâu trên biền dâu của HTX cũ [1].
Ít người còn giữ nghề
Theo lời ông Tuấn, số nong và sịa trong nhà ông là gom góp của nhiều gia đình; họ muốn giữ nghề như ông nhưng không đủ kiên nhẫn [1]. Tác giả cho biết mấy héc ta dâu trong dự án khôi phục nghề trồng dâu nuôi tằm, từng được kỳ vọng, đã thưa dần mức quan tâm [1]. Những người trồng dâu trên bãi biền sông Thu từng có các mối liên kết với doanh nghiệp và chính quyền, theo bài báo [1].
Tra cứu liên quan
- Nghề truyền thống: nghề dâu tằm xứ Quảng
- Địa bàn hành chính mới: xã Thu Bồn, xã Duy Xuyên
- Địa danh và sông ngòi: dòng sông Thu Bồn
- Tín ngưỡng địa phương: lễ hội Bà Chiêm Sơn
Điều còn chưa rõ
- Kỹ thuật chọn tre và cách thức đan cụ thể của từng loại bủa, sịa tằm chưa được nguồn báo chí mô tả chi tiết [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh tính và địa điểm chính xác của các thợ đan nong nia cung cấp cho vùng dâu tằm Duy Xuyên [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Số lượng hộ gia đình còn lưu giữ nong tằm tại làng Lệ Bắc ở thời điểm khảo sát [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Nong, bủa ngậm ngùi…”, 14/04/2023, https://baodanang.vn/nong-bua-ngam-ngui-3026636.html, truy cập 24/10/2026.