Con đường qua đèo Le rộng 3 m, dài khoảng 7 km, được mở năm 1937 – 1939 nhờ một vị quan về hưu đứng ra vận động lạc quyên: Phó bảng Nguyễn Đình Hiến [1]. Ông cũng là người dựng rạp tế linh cữu bạn học Trần Quý Cáp năm 1910 [2].
Khoa cử và đường làm quan
Năm Thành Thái thứ bảy (1895), ông vào học trường Đốc Quảng Nam; năm 1897 đỗ Tú tài, năm 1900 đỗ Cử nhân, năm 1901 đỗ Phó bảng [1].
Khoa Tân Sửu 1901, Quảng Nam có bốn người đỗ Phó bảng được gọi là “Tứ hổ”: Nguyễn Đình Hiến, Võ Vĩ, Nguyễn Mậu Hoán và Phan Châu Trinh [4]. Trong “Tứ kiệt” của văn chương khoa cử, ông được nhắc về phú [4].
Sau khi vinh quy, ông giữ chức Hàn lâm viện kiểm thảo [1]. Đầu năm 1906, ông được cử sang Pháp học chính trị và phong tục, viết cuốn “Tây sai kỹ lãm” trình vua Thành Thái [1]. Từ Pháp về, ông được bổ Đồng tri phủ lãnh chức Tri huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định [1].
Năm 1923, ông thăng Tổng đốc Bình Phú (Bình Định, Phú Yên) [1]. Năm 1927, ông về hưu với hàm Hiệp tá Đại học sĩ, ở Huế một thời gian rồi năm 1935 về lại Lộc Đông [1]. Nguồn nhắc bài thơ “Bang Sơn động” vịnh núi Trà Bang ở Ninh Thuận của ông [1].
Ông và Tiến sĩ Phan Quang là đồng liêu; hai nhà kết sui gia qua Phan Khoang và Nguyễn Thị Thanh, con gái ông [3].
Dựng rạp tế Trần Quý Cáp ở Bồng Sơn
Nguyễn Đình Hiến và Trần Quý Cáp học cùng trường tỉnh Quảng Nam [2]. Nhân cuộc biểu tình chống thuế năm 1908, Trần Quý Cáp bị kết tội và xử chém ở Khánh Hòa, mộ chôn bên cầu Sông Cạn [2]. Năm 1910, thân nhân và học trò đưa di hài ông về quê [2].
Lúc ấy Nguyễn Đình Hiến làm Tri phủ huyện Hoài Nhơn [2]. Dù Công sứ Pháp ở Bình Định đã đánh điện yêu cầu không cho người tụ tập khi đoàn rước đi qua, ông vẫn cho dựng rạp bên đường ở thị trấn Bồng Sơn, đặt hương án, cúng bạn một tuần rượu rồi ôm quan tài khóc [2].
Công sứ đề nghị Tổng đốc Bình Định trị tội ông [2]. Tổng đốc khi ấy là Bùi Xuân Huyên, người đồng hương Quảng Nam, trấn an Công sứ rằng tri phủ đang mắc bệnh “tàng tàng” nên sợ ma quỷ; Công sứ đành im lặng [2].
Mở đường qua đèo Le
Vùng Lộc Đông xưa giao lưu với bên ngoài chủ yếu bằng đường thủy xuôi sông Thu Bồn; lối mòn qua núi gọi là đèo Le [1]. Đám rước dâu của Phan Khoang qua đèo, gần 30 km từ nhà gái về nhà trai, đi mất hơn nửa ngày [3].
Theo tấm bia chính do Nguyễn Đình Hiến soạn bằng chữ Hán, mùa đông năm Bính Tý (1936), ông gặp Tổng đốc Quảng Nam Nguyễn Đình Khôi đi kinh lý miền thượng du, đề xuất mở con đường từ đông sang tây, rộng 3 m, dài khoảng 7 km [1].
Ban vận động lạc quyên do ông lập thu được 4.600 đồng lẻ trong tổng, cộng bạc tư ích và bạc hội chợ, giao quan lục lộ và tri huyện Nguyễn Trọng Thuần đốc thi công [1]. Đường khởi công mùa hạ năm Đinh Sửu (1937), xong vào mùa hè năm Kỷ Mẹo (1939); lễ khánh thành tại cây số 26 có Tổng đốc và Công sứ dự [1].
Năm Canh Thìn (1940), ông soạn bốn tấm bia để dựng ở đỉnh đèo: tấm chính ghi việc mở đường, các tấm còn lại ghi tên người góp tiền [1]. Khi chuẩn bị dựng thì Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra, bia phải đem giấu; theo nguồn năm 2010, mới tìm được ba tấm [1].
Tra cứu liên quan
- Bạn học trường Đốc Quảng Nam: Phan Thúc Duyện
- Bia đá về khoa cử Quảng Nam
- Nhà nho xứ Quảng dạy vua triều Nguyễn
Điều còn chưa rõ
- Chức ở Hoài Nhơn: nguồn [1] ghi “Đồng tri phủ lãnh chức Tri huyện”, nguồn [2] ghi “Tri phủ huyện” [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tên đèo Le: nguồn chỉ nêu giả thuyết, đọc trại từ tên người Pháp De Larie, hoặc từ chuyện leo mệt “le lưỡi” [1] [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 11/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Pháp luật Việt Nam, An Trường, “Người mở đèo Le”, 31/07/2010, https://baophapluat.vn/nguoi-mo-deo-le-post68752.html, truy cập 04/11/2026.
- Báo Pháp luật Việt Nam, Lê Phương Nghi, “Nghĩa khí Quảng Nam”, 01/01/2011, https://baophapluat.vn/nghia-khi-quang-nam-post63255.html, truy cập 04/11/2026.
- Báo Đà Nẵng, Văn Thành Lê, “Con nhà tông…”, 28/01/2023, https://baodanang.vn/con-nha-tong-3235373.html, truy cập 04/11/2026.
- Báo Đà Nẵng, ĐNCT, “Các danh xưng về khoa bảng người Quảng Nam”, 22/07/2023, https://baodanang.vn/cac-danh-xung-ve-khoa-bang-nguoi-quang-nam-3236105.html, truy cập 04/11/2026.