Lê Trí Viễn chỉ học hết bậc cao đẳng tiểu học, rồi vừa dạy vừa tự học mà đỗ thủ khoa kỳ thi Tú tài 2 ngành triết học năm 1945 tại Huế [1]. Ông sinh ngày 10/3/1918, mất ngày 3/2/2012 [1]. Báo Nhân Dân ghi ông có hơn 70 năm gắn bó với ngành sư phạm, từ Trường tiểu học Bảo An ở quê đến giảng đường đại học [1].
Từ trường làng Bảo An
Ông sinh trong một gia đình bần nho ở thôn Bào Đông, xã Điện Hồng, Điện Bàn [1][2]; xã Điện Hồng nay thuộc xã Điện Bàn Tây. Thuở nhỏ ông học chữ Nho do cha dạy ở nhà, sau đi học trường và học hết cao đẳng tiểu học [1][4].
Năm 1939, ông dạy Trường tiểu học Bảo An, rất gần nơi ông sinh ra [2][4] (xem làng Bảo An). Vừa dạy vừa tự học, ông đỗ Tú tài 1 tại Quảng Nam, rồi thủ khoa Tú tài 2 ngành triết học năm 1945 tại Huế [1]. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử dạy Trường Quốc học Huế [1]; Báo Giáo dục và Thời đại gọi đây là Trường Trung học Khải Định [3].
Dạy học thời kháng chiến chống Pháp
Năm 1947, Trường Quốc học Huế chuyển ra Hà Tĩnh, đổi tên là Trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng, và ông là giáo viên của trường [1]. Năm 1950, ông về dạy rồi làm Hiệu trưởng Trường cấp 3 Lê Khiết đặt trên đất Quảng Ngãi [1]. Các nguồn còn ghi ông dạy ở Quảng Bình; Báo Giáo dục và Thời đại kể thêm Bình Định [3][4].
Thời kỳ này ông viết hàng chục truyện ngắn và ký đăng trên các tạp chí văn nghệ Liên khu IV, như “Thương nữ”, “Núi che mặt trời”, “Trường học Lương Sơn Bạc” [2][4].
Ban Tu thư và Khoa Ngữ văn
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, làm việc ở Ban Tu thư, Bộ Giáo dục, viết sách giáo khoa văn cho cấp 2 và cấp 3 [1][3]. Ông cùng Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Liên, Huỳnh Lý, Trương Chính, Đỗ Đức Hiểu lập nhóm nghiên cứu văn học mang tên Lê Quý Đôn [1].
Năm 1958, ông về dạy Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, và làm Chủ nhiệm khoa từ năm 1963 đến năm 1978 [1][2]. Trong chiến tranh, khoa sơ tán ở Đại Từ (Thái Nguyên) rồi Văn Giang (Hưng Yên); Báo Giáo dục và Thời đại ghi khoa khi ấy có 1.200 sinh viên và 160 cán bộ, nhân viên [3]. Theo Báo Nhân Dân, ông mở mã ngành, viết giáo trình Hán – Nôm, đưa mỹ học, nghệ thuật học vào giảng dạy [1].
Ông từ chối chức Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội [2]; Báo Giáo dục và Thời đại kể ông viết thư gửi đi 7 nơi xin thoái thác [3]. Năm 1978, ông chuyển vào dạy Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đến khi nghỉ hưu, sau đó vẫn hướng dẫn nghiên cứu sinh [1][2]. Báo Tuổi Trẻ ghi ông làm hiệu trưởng Trường trung học phổ thông tư thục Nguyễn Khuyến, trường có hơn 6.000 học sinh [2].
Sách và dịch phẩm
Ông là đồng tác giả bộ “Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam” (ba tập, 1958) [1][2]. Theo Báo Nhân Dân, cuốn “Một số vấn đề lịch sử văn học Việt Nam” (1961) xuất bản tại Trung Quốc trong thời gian ông làm chuyên gia ở Đại học Bắc Kinh [1]. Các sách khác gồm “Những bài giảng văn ở đại học” (1982), “Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam” (1996), “Quy luật phát triển của lịch sử văn học Việt Nam” (1998) [1][2].
Ông cùng nhóm Lê Quý Đôn dịch “Những người khốn khổ” của Victor Hugo, Nhà xuất bản Văn hóa in lần đầu năm 1958 – 1959 [3]. Ông dịch “Thần khúc” của Dante [1], và theo Báo Thanh Niên, chuyển ngữ hoặc góp phần chuyển ngữ tác phẩm của Balzac, Lỗ Tấn cùng tác phẩm viết bằng chữ Hán của Bùi Huy Bích và Phan Khôi [4].
Năm 2006, các công trình được gom thành bộ “Lê Trí Viễn toàn tập” gồm bảy cuốn, gần 6.000 trang khổ lớn [1][2]. Năm 2007, ông gửi tặng Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 50 triệu đồng làm giải thưởng mang tên ông cho sinh viên nghèo vượt khó [1].
Ông được phong Giáo sư năm 1980 [1][3] và nhận Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1998 [3]. Báo Giáo dục và Thời đại kể tên một số học trò của ông, như Trần Đức Lương, Hoàng Tụy, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật [3]. Ông mất ngày 3/2/2012; lễ viếng tổ chức tại tư gia ở TP Hồ Chí Minh, sau đó an táng ở Củ Chi [2].
Tra cứu liên quan
- Quê: xã Điện Bàn Tây, làng Bảo An
- Người Quảng trong học thuật: người Quảng hay cãi trong học thuật, Hoàng Tụy, Phan Khôi
- Danh sách: danh nhân xứ Quảng
Điều còn chưa rõ
- Năm được phong Nhà giáo Nhân dân: Báo Nhân Dân và Báo Thanh Niên (dẫn Từ điển Văn học bộ mới) ghi 1990 [1][4]; Báo Giáo dục và Thời đại ghi 1988 [3]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
- Giải thưởng Hồ Chí Minh: Báo Giáo dục và Thời đại ghi cụm công trình “Nghiên cứu, phê bình văn học trung đại Việt Nam và Cơ sở ngữ văn Hán Nôm” được tặng đợt năm 2010 [3]; Báo Nhân Dân tháng 2/2012 lại viết ông “được đề nghị xét tặng” năm 2012 [1]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
- Số công trình: 46 theo Báo Tuổi Trẻ và Báo Thanh Niên [2][4]; 43 tập theo Báo Giáo dục và Thời đại [3]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
- Thời gian dạy ở Đại học Bắc Kinh: Báo Giáo dục và Thời đại đặt sau năm 1954, trước khi về Khoa Ngữ văn [3]; Báo Nhân Dân gắn với cuốn sách in năm 1961 [1]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
Cập nhật: tháng 11/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Nhân Dân, “Vĩnh biệt người thầy tài năng và đức độ Lê Trí Viễn”, 05/02/2012, https://nhandan.vn/vinh-biet-nguoi-thay-tai-nang-va-duc-do-le-tri-vien-post567032.html, truy cập 05/11/2026.
- Báo Tuổi Trẻ, “Vĩnh biệt thầy của những bậc thầy”, 04/02/2012, https://tuoitre.vn/vinh-biet-thay-cua-nhung-bac-thay-475982.htm, truy cập 05/11/2026.
- Báo Giáo dục và Thời đại, “Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Lê Trí Viễn – Hậu duệ của nòi văn”, 20/03/2019, https://giaoducthoidai.vn/giao-su-nha-giao-nhan-dan-le-tri-vien-hau-due-cua-noi-van-post363785.html, truy cập 05/11/2026.
- Báo Thanh Niên, “Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn: Một đời dạy văn, một đời viết văn”, 23/04/2007, https://thanhnien.vn/nha-giao-nhan-dan-le-tri-vien-mot-doi-day-van-mot-doi-viet-van-185419801.htm, truy cập 05/11/2026.