Đặc tính “hay cãi” gắn liền với hình ảnh con người xứ Quảng trong đời sống xã hội cũng như hoạt động nghiên cứu tri thức [1]. Theo tác giả Hương Thu trên Báo Quảng Nam, tinh thần phản biện này tương đồng với đòi hỏi khoa học về sự “vô úy” (không sợ hãi) và “bất nhượng ư sư” (không nhượng bộ trước thầy) để truy tìm chân lý [1]. Dựa trên vốn tư liệu thành văn và thực chứng điền dã, nhiều nhà nghiên cứu đất Quảng đã thẳng thắn tranh luận học thuật với các quan điểm có sẵn [1].
Truyền thống sĩ phong và tinh thần tiếp nhận tri thức mới
Dù giáo dục khoa cử Quảng Nam hình thành muộn do bối cảnh lịch sử và vị trí địa lý, quá trình này ghi nhận bước phát triển nhanh chóng [1]. Các danh xưng khoa bảng như Ngũ phụng tề phi, “tứ hổ”, “tứ kiệt”, “ngũ tử đăng khoa” và “phụ tử đăng khoa” được xem là minh chứng cho sự thăng hoa của giáo dục khoa cử đất Quảng [1]. Khi được triều đình bổ dụng, những bậc đỗ đạt đem sở học ra giúp nước, dạy vua và thẳng thắn phản biện với triều đình [1].
Theo tác giả, những người đỗ đạt khi làm quan được khen ngợi về tính thanh liêm, công minh, chính trực, quả cảm, nghĩa khí, khẳng khái và thương dân [1]. Dưới thời vua Tự Đức, triều đình ban thưởng 4 chữ kim khánh “Liêm – Bình – Cần – Cán” cho Đốc học Quảng Nam Nguyễn Tạo [1]. Bên cạnh truyền thống khoa cử, giới trí thức đất Quảng chủ động đón nhận tư tưởng học thuật mới qua phong trào tân thư, phong trào Đông du và Đông Kinh nghĩa thục [1]. Khi ra nước ngoài công cán, danh thần Phạm Phú Thứ chú ý ghi nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật để mang về nước áp dụng, còn Nguyễn Thuật chủ động tham vấn, học hỏi từ các trí giả Trung Quốc và trí giả gốc Anh [1].
Nền tảng tư liệu và các thế hệ nhà nghiên cứu
Hoạt động học thuật đòi hỏi vốn kiến thức lưu giữ qua sách vở [1]. Từ thế kỷ 17, tại đô thị cổ Hội An đã có gia đình tích trữ lượng sách lớn ấn bản từ Trung Quốc, khiến học giả Chu Thuấn Thủy ngạc nhiên khi hầu như các tác phẩm ông nhắc tới gia đình đều sở hữu [1].
Nguồn báo chí dẫn tên nhiều nhà nghiên cứu đất Quảng có vốn tri thức phong phú như GS. Hoàng Tụy, GS. Huỳnh Lý, GS. Lê Trí Viễn, GS. Lê Đình Kỵ, GS. Nguyễn Quang Hồng và TS. Huỳnh Công Bá [1]. Bên cạnh giới học thuật có học hàm học vị, xứ Quảng còn có tầng lớp nhà nghiên cứu địa phương am hiểu sâu rộng về lịch sử làng xã [1]. Về phương pháp nghiên cứu, GS. Chương Thâu nhận xét nhà nghiên cứu Huỳnh Công Bá làm việc cẩn trọng, nghiêm túc khi sử dụng hệ thống tư liệu phong phú và phối kiểm công phu [1].
Những cuộc tranh luận học thuật thực tế
Vận dụng quan niệm “Tận tín thư bất như vô thư” của Mạnh Tử, tinh thần làm khoa học đòi hỏi hoài nghi và phản biện các tri thức sẵn có [1]. Nhà nghiên cứu Huỳnh Công Bá đã đính chính các cách giải thích sai về nguồn gốc địa danh “Đà Nẵng”, sửa cách phiên âm sai về tên làng xã trong bản dịch các tác phẩm “Ô châu cận lục”, “Phủ biên tạp lục”, đính chính nội dung sách của học giả Đào Duy Anh và chỉnh lại các điểm dịch sai tư liệu văn bia trong công trình “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam” [1].
Một cuộc trao đổi học thuật cụ thể diễn ra khi GS. Trần Quốc Vượng sau các chuyến điền dã từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Quảng Nam, Khánh Hòa đã đặt nghi vấn về việc địa phương dường như kỵ dùng chữ “Bắc” trong tên làng (dẫn các địa danh như Trà Kiệu Đông, Tây, Nam, Trung ở Duy Xuyên hay Cẩm Nam, Cẩm Tây, Cẩm Đông, Cẩm Thanh, Cẩm Châu quanh Hội An) [1]. Huỳnh Công Bá khi đó đã phản biện rằng dải đất miền Trung không hề kỵ yếu tố này [1].
Ông chỉ ra sách “Ô châu cận lục” thế kỷ 16 ghi nhận xã Bắc Bạn thuộc châu Minh Linh, sách “Phủ biên tạp lục” thế kỷ 18 có xã Bắc Lâm thuộc tổng Phúc Long và xã Yêu Bắc thuộc Biệt Nộp [1]. Dựa trên bản đồ cổ, ông nêu thêm hàng loạt địa danh xứ Quảng chứa chữ “Bắc” như xã Bắc Thôn, Ấp Bắc, Phong Lệ Bắc, Cẩm Lệ Bắc, Bắc Ấp, Làng Bắc, Chính Bắc, Bắc Lâm và Bắc Mỹ [1]. Huỳnh Công Bá lý giải rằng khi lưu dân tiến về phía nam lập làng, họ đặt tên gốc là “X”, sau đó khi mở rộng đất tiếp thì gọi phần mới là “X Nam”, còn làng cũ theo thói quen vẫn giữ nguyên tên “X” ban đầu [1].
Vai trò giải quyết thực tiễn của giới nghiên cứu địa phương
Tinh thần tranh luận học thuật không chỉ xuất hiện ở viện trường mà còn thấy rõ ở các nhà nghiên cứu địa phương không mang học vị [1]. Điển hình là nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo từng viết bài phê bình, phản biện công trình “Tín ngưỡng cư dân ven biển Quảng Nam – Đà Nẵng” và phản biện cách giải thích địa danh “Nại Hiên”, đăng tải trên Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng [1].
Nhờ vốn tri thức làng xã và khả năng khảo cứu tư liệu Hán Nôm, các nhà nghiên cứu trở thành những người phản biện am tường, hỗ trợ chính quyền giải quyết tranh chấp về Tiền hiền, Hậu hiền tại nhiều làng xã miền Trung [1]. Theo tác giả bài báo, năng lực phản biện dựa trên chứng cứ tư liệu vững chắc đã khẳng định uy tín của các nhà nghiên cứu đất Quảng trong đời sống học thuật [1].
Tra cứu liên quan
- Khoa cử và danh nhân: Ngũ phụng tề phi, bia đá về khoa cử Quảng Nam, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Thuật, GS. Hoàng Tụy
- Nhân vật học thuật Quảng Nam: nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân
- Văn hóa và tiếng nói: tiếng Quảng
- Đô thị lưu trữ tư liệu cổ: phố cổ Hội An
Điều còn chưa rõ
- Tên và địa chỉ cụ thể của gia đình lưu trữ sách tại Hội An vào thế kỷ 17 mà học giả Chu Thuấn Thủy từng ghé thăm [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Danh mục chi tiết các bài viết phản biện của nhà nghiên cứu Lê Văn Hảo trên Tạp chí Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Thời điểm chính xác vua Tự Đức ban 4 chữ kim khánh “Liêm – Bình – Cần – Cán” cho Đốc học Nguyễn Tạo [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam, “Người Quảng “hay cãi” trong học thuật”, 05/08/2024, https://baodanang.vn/nguoi-quang-hay-cai-trong-hoc-thuat-3139044.html, truy cập 24/10/2026.