Thuở nhỏ, Tống Phước Phổ làm thư ký chép tuồng cho gánh hát của người cậu là Nguyễn Hiển Dĩnh: cụ Dĩnh nghĩ ra câu nào thì đọc cho ông chép, rồi sửa và giảng giải điển tích [3]. Năm 18 tuổi, ông viết vở đầu tay “Lâm Sanh, Xuân Nương” [3]. Theo Báo Đà Nẵng, ông để lại gần 100 kịch bản tuồng, trong đó hơn 20 vở về đề tài cách mạng [2].
Làng An Quán
Ông sinh năm 1902 ở làng An Quán, phủ Điện Bàn [1][3]. Báo Đà Nẵng năm 2015 ghi làng nay là xã Điện Phương, thị xã Điện Bàn [1]; bài năm 2013 ghi cụ thể hơn là thôn Đông Khương, xã Điện Phương [4]. Từ tháng 7/2025, vùng Điện Phương thuộc phường Điện Bàn.
Ông nội ông học rộng, đỗ đạt cao nhưng từ quan [1][4]. Mẹ ông là cháu nội Hoàng Diệu; ông mồ côi cha từ nhỏ, sống với mẹ, và gọi Nguyễn Hiển Dĩnh bằng cậu [1][3]. Lúc sinh thời, ông kể may mắn của mình là được cụ Dĩnh chọn làm phụ tá ghi chép, chỉnh lý các vở tuồng [2].
Hoạt động cách mạng
Ông tham gia cách mạng từ những năm 1930 và nhiều lần bị chính quyền Pháp bắt giam [1]. Theo Báo Đà Nẵng năm 2013, ông là Bí thư Chi bộ phu kéo xe ở Sài Gòn, từng bị kết án một năm tù năm 1931, và hoạt động cùng nhóm với Lý Tự Trọng, tham gia bảo vệ Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam) [3]. Bài năm 2015 ghi ông ở chung nhà với Lý Tự Trọng và Phan Bôi tại Sài Gòn [1].
Bài thơ “Về Quảng Nam bị bắt” của ông được Giáo sư Hoàng Chương chép lại [1]. Một bài thơ khác, Báo Đà Nẵng ghi năm 1921, nói về lý do ông tìm đến tuồng: “Thử đem tiếng nhạc át lời than” [1][4].
Gánh Tân Thành và Đoàn tuồng Liên khu 5
Ông cùng Nguyễn Lai và Ngô Thị Liễu lập gánh hát Tân Thành, đào tạo lớp diễn viên trẻ nối nghiệp [3][4]. Báo Đà Nẵng tháng 4/2013 ghi việc này trong giai đoạn 1940 – 1945 [3], còn bài tháng 1/2013 viết là sau năm 1945 [4]. Học trò ông có Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Kim Hùng, Trần Hưng Quang, Võ Sĩ Thừa [4].
Năm 1948, ông cùng Võ Bá Huân, khi ấy là Ty trưởng Công an Quảng Nam, đi vận động ủng hộ quỹ kháng chiến và gây dựng lại phong trào tuồng [4]. Báo Đà Nẵng coi đây là tiền thân của Đoàn tuồng Liên khu 5, nay là Nhà hát Tuồng Đào Tấn ở Bình Định, nơi ông làm việc ngót 40 năm sau chiến tranh [3][4]. Khi Đoàn tuồng Liên khu 5 thành lập, ông cùng Đội Tảo (Nguyễn Nho Túy) và Nguyễn Lai viết vở “Chị Ngộ” [2]; bài năm 2013 ghi vở này là ông chỉnh lý kịch bản của Nguyễn Lai [4].
Các vở tuồng
Từ những năm 1920, các vở “Lâm Sanh – Xuân Nương”, “Lục Vân Tiên”, “Kiều Quốc Sĩ” bắt đầu khiến người xem, và cả mật thám Pháp, chú ý tới ông [2]. Vở ông tâm đắc nhất là “Trưng Vương đề cờ”, theo lời ông viết năm 1927 rồi sửa vào các năm 1930, 1945, 1947 [3].
Các vở lịch sử gồm “Hai Bà Trưng khởi nghĩa”, “Ngô Quyền”, “Đinh Bộ Lĩnh”, “Lam Sơn tụ nghĩa”, “An Tư công chúa”, “Sao Khuê trời Việt” [3], cùng “Gương liệt nữ”, “Quán Thăng Long”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Cờ giải phóng” [4]. Ông chỉnh lý nhiều vở tuồng cổ như “Sơn Hậu”, “Đào Phi Phụng”, “Tam nữ đồ vương” [4]. Ông cũng viết “Bùi Thị Cúc”, “Đường lên Khuông Mánh” và chuyển kịch thơ “Bốn nghìn năm họp mặt anh hùng” của Huy Cận sang tuồng [4].
Giáo sư Hoàng Chương xếp ông là soạn giả lớn nhất của sân khấu tuồng “trong thế kỷ qua” sau Đào Tấn, Nguyễn Diêu và Nguyễn Hiển Dĩnh [3]. Trong tập sách “Tống Phước Phổ – cây đại thụ tuồng”, ông Hoàng Chương sưu tầm, công bố 75 bài thơ của Tống Phước Phổ [3].
Sau khi mất
Tống Phước Phổ mất ngày 31/8/1991 tại Đà Nẵng [3]. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên [3][4]. Dịp 110 năm ngày sinh, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch truy tặng ông Giải thưởng Đào Tấn [3].
Từ ngày 24/9 đến 4/10/2015, Đà Nẵng đăng cai “Liên hoan tác phẩm sân khấu của tác giả Tống Phước Phổ”, với gần 600 diễn viên của 20 đoàn, câu lạc bộ tuồng và 23 vở diễn [2]. Nhà lưu niệm của ông đặt tại Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh; Đà Nẵng có con đường mang tên ông [3].
Tra cứu liên quan
- Nghệ thuật: tuồng xứ Quảng, Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh
- Gia đình và đồng nghiệp: Nguyễn Hiển Dĩnh, Hoàng Diệu, Nguyễn Nho Túy, Phan Bôi
- Quê: phường Điện Bàn
- Danh sách: danh nhân xứ Quảng
Điều còn chưa rõ
- Thời điểm lập gánh Tân Thành: 1940 – 1945 theo bài ngày 20/4/2013 [3], sau năm 1945 theo bài ngày 25/1/2013 [4]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
- Thời gian viết tuồng: “hơn nửa thế kỷ” [2], “60 năm” [4], “hơn 70 năm gắn bó với nghệ thuật tuồng” [3]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
- Năm bài thơ về đoàn tuồng Y Hiệp Ban: bài năm 2013 ghi 1921 [4], bài năm 2015 xếp vào giai đoạn hoạt động cách mạng [1]. [CẦN KIỂM CHỨNG]
- Vị trí con đường Tống Phước Phổ: nguồn không ghi. [CẦN KIỂM CHỨNG]
Cập nhật: tháng 11/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Tống Phước Phổ – tấc lòng với tuồng đồ – Bài 1: Nhà cách mạng ‘nghệ sĩ'”, 12/11/2015, https://baodanang.vn/tong-phuoc-pho-tac-long-voi-tuong-do-bai-1-nha-cach-mang-nghe-si-3028912.html, truy cập 05/11/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Tống Phước Phổ – tấc lòng với tuồng đồ – Bài 2: Nửa thế kỷ viết tuồng”, 13/11/2015, https://baodanang.vn/tong-phuoc-pho-tac-long-voi-tuong-do-bai-2-nua-the-ky-viet-tuong-3028911.html, truy cập 05/11/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Nhà soạn tuồng lỗi lạc xứ Quảng”, 20/04/2013, https://baodanang.vn/nha-soan-tuong-loi-lac-xu-quang-3029843.html, truy cập 05/11/2026.
- Báo Đà Nẵng, “Đại thụ nghệ thuật tuồng”, 25/01/2013, https://baodanang.vn/dai-thu-nghe-thuat-tuong-3228205.html, truy cập 05/11/2026.