Hai tấm bia đá tìm thấy tại khu vực Khuê Trung (nay thuộc phường Cẩm Lệ) lưu giữ những văn khắc cổ nhất của nền văn hóa Champa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng [1]. Cả hai hiện vật đều có niên đại từ cuối thế kỷ IX đến đầu thế kỷ X, ghi lại thông tin về hoàng gia, tầng lớp quý tộc cùng đời sống tín ngưỡng thời bấy giờ [1].
Lịch sử phát hiện hai tấm bia
Vào đầu thế kỷ XX, một người Pháp tên là Rougier đã phát hiện tấm bia đầu tiên tại Khuê Trung [1]. Đến năm 1911, học giả Edouard Huber công bố nghiên cứu về hiện vật này với tên gọi bia Hóa Quê trên tạp chí của Viện Viễn Đông Bác Cổ (số 11) trong bài viết về nghiên cứu Đông Dương [1]. Hiện nay, tấm bia này được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia ở Hà Nội [1].
Tấm bia thứ hai được phát hiện vào thập niên 1980 khi một người dân địa phương đào móng xây nhà tại Khuê Trung [1]. Sau khi nhận được tin báo, Bảo tàng Đà Nẵng đã tiếp nhận và đưa hiện vật về bảo quản [1]. Hiện vật này thường được gọi tắt là bia Khuê Trung, trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng [1]. Năm 2012, hai nhà nghiên cứu Arlo Griffiths và Amandine Lepoutre đã dịch bia sang tiếng Anh trong công trình về văn khắc Champa, đi kèm bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thanh Xuân [1].
Địa bàn Khuê Trung ngày nay vốn là một phần của vùng đất Hóa Quê xưa [1]. Tên gọi Hóa Quê là cách phát âm của người xứ Quảng từ chữ Hóa Khuê, vùng đất từng trải rộng từ khu vực sân bay Đà Nẵng đến tận núi Non Nước [1]. Tên gọi này đã xuất hiện từ thế kỷ XVII trong sách Ô Châu cận lục của Dương Văn An, khi đó là một trong 64 xã thuộc huyện Điện Bàn [1]. Dấu tích địa danh Hóa Khuê ngày nay vẫn còn ghi nhận ở các địa danh như làng Hóa Khuê Đông hay Khuê Trung [1].
Kích thước và nội dung văn khắc
Bia Hóa Quê được tạc bằng đá với kích thước cao 124 cm, rộng 70 cm và dày 33 cm, có văn tự khắc trên cả bốn mặt [1]: – Mặt A gồm 17 dòng chữ Phạn, có nội dung tôn vinh thần Siva qua biểu tượng linga [1]. – Mặt B gồm 19 dòng chữ Phạn, ca ngợi các vị vua Jayasimhavarman, Bhadravarman cùng các vị đại thần trong triều [1]. – Mặt C gồm 17 dòng chữ Phạn, ghi chép niên đại dựng các bức tượng thờ [1]. – Mặt D gồm 19 dòng chữ Chăm cổ và có thêm một câu bằng chữ Phạn, nêu quy định về việc gìn giữ tấm bia [1].
Bia Khuê Trung có kích thước cao 75 cm, rộng 45 cm và dày 35 cm, khắc chữ trên bốn mặt nhưng bề mặt có nhiều vị trí bị mòn và sứt vỡ ở các phần giáp mối [1]. Nội dung văn khắc trên bia gồm hai phần chính [1]: – Phần đầu viết bằng chữ Phạn, ca ngợi thần Maharudra (một hóa thân của thần Siva) cùng vua Jayasimhavarman, ghi lại việc lập công trình vinh danh vị thần [1]. – Phần thứ hai viết bằng chữ Chăm cổ xen lẫn một số từ ngữ tiếng Phạn, liệt kê danh sách đất đai dâng cúng cho một tu viện [1].
Niên đại và ý nghĩa lịch sử xã hội
Về thời điểm tạo tác, văn bia Khuê Trung ghi ngày dựng bia tương ứng với ngày 19 hoặc 20 tháng 2 năm 899 dưới triều vua Jayasimhavarman [1]. Trong khi đó, bia Hóa Quê được xác định dựng sớm nhất vào năm 909 hoặc 910 dưới thời vua Bhadravarman [1]. Hai tấm bia này thuộc giai đoạn phát triển của vương triều Champa khởi đầu từ tấm bia lập tại Đồng Dương năm 875 dưới thời vua Indravarman II [1].
Những người đứng ra lập bia Hóa Quê có mối quan hệ thân tộc gần gũi với hoàng gia Champa [1]. Mặt C của bia ghi lại việc các con dựng tượng cho người cha là Ajna Sarthavaha, người được mô tả là anh của hoàng hậu vua Indravarman [1]. Văn bia cũng nhắc đến hai anh em vị đại thần Ajna Narendra Nrpavitra và Ajna Jayendrapati, những người thông thạo nghi lễ tôn giáo Siva và phụ trách công việc đối ngoại, ngoại giao với các nước lân bang [1].
Nội dung bia Hóa Quê còn thuật lại chuyện linga của thần Siva tương đồng với kinh văn Lingapurana từ Ấn Độ, đồng thời liệt kê các vật phẩm quý báu do vua ban tặng như vòng hoa, dấu tilaka vẽ trên trán, hoa tai, áo chỉ vàng, kiếm nạm vàng, kiệu cán bạc và lọng lông công [1]. Tại bia Khuê Trung, việc đề cập thành lập một tu viện (vihara) được miễn thuế cho thấy nơi đây từng là một trung tâm tôn giáo và giáo dục tín ngưỡng [1]. Cùng với dấu tích giếng cổ và tượng thờ, các nhà nghiên cứu nhận định vùng đất này từng là một thị tứ quan trọng, nằm trên tuyến đường thủy qua sông Cổ Cò kết nối cửa biển Đà Nẵng và cửa Đại Chiêm, phục vụ giao thương và liên lạc với các trung tâm như kinh đô Trà Kiệu hay thánh địa Mỹ Sơn [1].
Tra cứu liên quan
- Địa phương phát hiện: phường Cẩm Lệ
- Địa danh lịch sử: làng Hóa Khuê Đông, sông Cổ Cò
- Nơi lưu giữ hiện vật: Bảo tàng Điêu khắc Chăm
- Thời kỳ Champa: Indravarman II, Đồng Dương, những dòng sông trong bia ký Chăm
Điều còn chưa rõ
- Vị trí đào móng làm nhà cụ thể của người dân phát hiện bia Khuê Trung vào thập niên 1980 [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Ngày dựng chính xác của bia Khuê Trung là ngày 19 hay ngày 20 tháng 2 năm 899 theo lịch dương [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Niên đại chính xác của bia Hóa Quê là năm 909 hay năm 910 [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Dấu vết chữ khắc cổ nhất tại Đà Nẵng”, 13/04/2013, https://baodanang.vn/dau-vet-chu-khac-co-nhat-tai-da-nang-3228354.html, truy cập 24/10/2026.