Văn hoá

Chùa Quan Âm (Minh Hương Phật tự) ở Hội An

Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An
Những ngôi nhà tường vàng trong phố cổ Hội An. Ảnh minh hoạ: Steffen Schmitz, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

Tam quan chùa Quan Âm ở Hội An không nằm trên trục giữa mà lệch về bên phải, vì chùa nằm nối tiếp ngay sau lưng miếu Quan Công [1][2]. Chùa của làng Minh Hương, còn gọi là Minh Hương Phật tự, chùa Chiên Đàn, chùa Bà, ở số 13 đường Nguyễn Huệ [1]. Nơi này trước 7/2025 thuộc phường Minh An, thành phố Hội An (tỉnh Quảng Nam), nay thuộc phường Hội An, thành phố Đà Nẵng [2][3]. Chùa và miếu Quan Công cùng được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia năm 1991 [1].

Có từ bao giờ

Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An viết rằng chưa có tư liệu xác định rõ năm khởi dựng [1]. Tấm bia trùng tu năm Quý Dậu 1753, hiện để trong miếu Quan Công, có câu cho biết miếu Quan Thánh và chùa Quan Âm của bản xã đã xây được 100 năm; từ đó trung tâm suy ra chùa có muộn nhất vào năm 1653 [1]. Bài giới thiệu năm 2015 của trung tâm chỉ ghi chùa xây vào thế kỷ XVII [3]; VietNamNet năm 2025 gọi đây là cổ tự hơn 370 năm [2].

Tấm hoành “Chiên Đàn lâm” ở gian giữa chính điện có thượng khoản ghi tháng Chạp năm Quý Tỵ niên hiệu Khánh Đức, được trung tâm dịch là năm 1653, và hạ khoản ghi bổn xã trùng tu năm Giáp Thìn niên hiệu Thành Thái (1904) [1]. Theo trung tâm, Chiên Đàn Lâm là tên khác của chính chùa này, không phải một ngôi chùa khác ở Hội An [1].

Trong Hải ngoại kỷ sự, Hòa thượng Thạch Liêm kể đoàn của ông nghỉ ở chùa Di Đà, chùa chật nên phải chia ra ở “Quan Âm đường” và nơi khác [1]. Trung tâm coi đây là ghi chép sớm nhất về Quan Âm đường (觀音堂) [1].

Các lần trùng tu và đổi công năng

Năm Giáp Thìn 1904 (Thành Thái 16), làng Minh Hương tu sửa chùa và tượng Phật, theo hai tấm bia “Chiên Đàn Phật tự” và “Quảng An Phật tự” [1]. Năm 1943 (Bảo Đại 18), làng trùng tu chùa cùng cung Trừng Hán và Tụy Tiên đường [1]. Theo Quảng Nam xã chí do Viện Viễn Đông Bác cổ làm năm 1943 – 1944, chùa có hẻm thông sang nhà Tiền hiền, có hai phương trượng và giếng nước; nay hẻm không còn, giếng vẫn còn, chỗ hai phương trượng thay bằng nhà đông và công trình phụ [1].

Từ năm 1975 đến 1989, chùa là trụ sở UBND phường Minh An [1]. Cuối năm 1989, Ban Quản lý Di tích tiếp quản, tu bổ, phục hồi bàn thờ Phật và dùng chùa làm Nhà trưng bày Lịch sử – Văn hóa Hội An; việc thờ tự khi ấy chỉ gói trong gian giữa nếp nhà sau [1]. Bài năm 2015 của trung tâm ghi nơi này trưng bày 273 hiện vật gốc và 107 ảnh tư liệu [3]. Sau đợt đại trùng tu năm 2015, nhà trưng bày chuyển về Bảo tàng Hội An, và năm 2016 chùa được trả lại chức năng vốn có [1].

Kiến trúc

Chùa quay mặt hướng nam, phía tây giáp đường Nguyễn Huệ, gồm tam quan, sân trước, chính điện và nhà đông [1]. Tam quan có 4 trụ biểu vuông, hai trụ giữa cao hơn chia ba lối đi, đỉnh trụ gắn búp sen, nối bằng xà cách điệu làm trán cổng, không có mái [1][2]. Qua cổng là sân nhỏ có hòn non bộ và cây xanh [1][2].

Công trình chính theo kiểu chữ “nhất”: chính điện 3 gian, 2 nếp mái, khung gỗ chịu lực, tường gạch, mái ngói âm dương [1][2]. Nếp trước có hệ vì kết hợp “trính chồng trụ đội” và “chồng đấu con sơn”; bông trính ở hiên chạm hoa sen và đồ án “sư tử hí tiền” [1][2]. Nếp sau nhỏ hơn, vì kèo suốt không chạm trổ, chia thành chỗ thờ phía trước và kho phía sau [1]. Nhà đông bên trái chính điện dùng trưng bày thư họa và làm chỗ nghỉ cho khách [1].

Mặt tiền là vách gỗ với cửa thượng song hạ bản: gian giữa cửa 6 cánh chạm rồng, long mã, rùa, hổ, tùng – lộc; hai gian bên cửa 4 cánh chạm chữ Thọ kiểu triện; ô liên ba chạm thập bát La Hán [1][2].

Thờ tự và di vật

Hai bên hiên có tượng Hộ Pháp Vi Đà và Tiêu Diện Đại Sĩ; gian giữa thờ Phật A Di Đà, gian trái thờ Quan Thế Âm, gian phải thờ Đại Thế Chí, tường biên bên phải có hương án thờ Địa Tạng [1][2]. Chùa giữ hai hương án cổ sơn son thếp vàng; hương án gian giữa chân quỳ, đầu chân chạm mặt rồng, mặt trước chạm cúc – sóc, mai – điểu, sen – hạc, mẫu đơn – hươu [1][2]. Bộ tranh thập bát La Hán gồm 6 bức, còn 5; tranh treo ở chùa là bản sao, bản gốc giữ tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An [1][2].

Ngoài ngày rằm, mồng một, chùa có hai lễ lớn: vía Quan Thế Âm (19 tháng 2 âm lịch) và Tết Nguyên tiêu (16 tháng Giêng) [1][2].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm khởi dựng: bài năm 2015 ghi thế kỷ XVII [3]; bài năm 2024 suy từ bia năm 1753 rằng chùa có muộn nhất năm 1653, nhưng nói rõ chưa có tư liệu xác định năm khởi dựng [1]; VietNamNet ghi “hơn 370 năm” [2]. Không nên viết “xây năm 1653” như năm khởi công [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Các nguồn đã tải không cho biết năm Thạch Liêm ghé chùa Di Đà, cũng không đổi năm dương lịch cho hai hoành phi “Từ ân vĩnh tí” (năm Ất Hợi) và “Viên thông điện” (năm Kỷ Hợi) [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 11/2026

Nguồn tham khảo

  1. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, “Chùa Phật Quan Âm”, 17/05/2024, https://hoianheritage.net/vi/trao-doi-chuyen-nganh/chuyen-de-nghien-cuu-trao-doi/chua-phat-quan-am-1225.html, truy cập 04/11/2026.
  2. Báo VietNamNet, “Cổ tự hơn 370 năm tồn tại ở Hội An, lưu giữ nhiều tượng Phật cổ, hương án quý”, 11/09/2025, https://vietnamnet.vn/co-tu-hon-370-nam-ton-tai-o-hoi-an-luu-giu-nhieu-tuong-phat-co-huong-an-quy-2441108.html, truy cập 04/11/2026.
  3. Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An, “Chùa Quan Âm, số 13 đường Nguyễn Huệ, phường Minh An”, 29/09/2015, https://hoianheritage.net/vi/di-san-van-hoa/Chua-Phat/chua-quan-am-so-13-duong-nguyen-hue-phuong-minh-an-241.html, truy cập 04/11/2026.