Con người

Nam Trân

Trong *Thi nhân Việt Nam*, Hoài Thanh – Hoài Chân tuyển 46 nhà thơ và 169 bài; Nam Trân có 7 bài – bằng với Thế Lữ và Hàn Mặc Tử [1]. Người đồng hương xứ Quảng nhưng lại nổi danh là “thi sĩ của xứ Huế”, với nhận xét của Hoài Thanh: “Tả cảnh Huế chưa ai bằng Nam Trân” [1].

Từ quan Nam triều đến nhà thơ Thơ mới

Nam Trân tên thật Nguyễn Học Sỹ, sinh ngày 15/2/1907 tại làng Phú Thứ Thượng, huyện Đại Lộc [1]. Thuở nhỏ, cho đến năm 12 tuổi, ông học chữ Hán và tập làm văn trường ốc [1]. Sau đó ông vào học tại Trường Quốc học (Huế), rồi Trường Bưởi (Hà Nội), và có bằng tú tài bản xứ [1].

Học xong, ông đi làm tham tá tòa Khâm sứ Huế, rồi làm tá lý Bộ Lại (tòng tam phẩm) và thị lang Bộ Lại (chánh tam phẩm), cuối cùng là Án sát tỉnh Bình Định [1]. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia kháng chiến, công tác ở Ủy ban Kháng chiến hành chính huyện Đại Lộc, rồi tỉnh Quảng Nam, làm Chánh văn phòng Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu V [1].

Ông tham gia sáng tác văn nghệ và từng làm Chủ tịch Ban Đại diện văn hóa kháng chiến Khu V, dịch truyện Xô viết ra tiếng Việt [1]. Nhà văn Nguyễn Văn Bổng nhận xét bản dịch *Người Xô viết chúng tôi* của Nam Trân “như một ngọn gió trong lành đến với người Việt Nam ở Quảng Nam, ở Liên khu 5, góp phần tiếp sức cho cuộc chiến đấu gian nan” [1]. Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục hoạt động văn nghệ [1].

Thi sĩ của không gian Huế

Nam Trân đã có thơ đăng trên nhiều báo và tạp chí như *Nam phong tạp chí*, *Văn học tạp chí*, *Tràng An*, *Sông Hương*, *Phong hóa* [1]. Tác phẩm chính của ông là tập thơ Huế, Đẹp và Thơ (1939) [1].

Hoài Thanh nhận xét: “Tả cảnh Huế chưa ai bằng Nam Trân… Thiết tưởng vì tình láng giềng đất Quảng Nam không thể gửi ra xứ Huế món quà nào quý hơn nữa: lần thứ nhất những vẻ đẹp xứ này được diễn ra thơ” [1]. Bài *Đẹp và Thơ (Cô gái Kim Luông)* có mặt trong hầu hết các tuyển tập thơ về Huế [1].

Dịch giả và nhà giáo dục

Năm 1959, Nam Trân về công tác tại Viện Văn học, chuyên về dịch thuật [1]. Ông còn là người có công mở lớp đại học Hán Nôm đầu tiên ở miền Bắc, do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, và trực tiếp giảng dạy [1].

Với bút danh Tương Như, ông tuyển và tham gia dịch Thơ Đường (tập 1, tập 2, NXB Văn học – tái bản nhiều lần), *Thơ Tống*, *Thơ văn Lý Trần*, *Thơ Quách Mạt Nhược* [1]. Các bản dịch thơ Đường của ông – về Vương Duy, Đỗ Phủ, Lý Bạch – được tuyển chọn và giảng dạy trong chương trình ngữ văn phổ thông [1].

Đặc biệt, Nam Trân là người vừa chủ trì vừa dịch Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) của Hồ Chí Minh ra tiếng Việt, xuất bản lần đầu năm 1960 [1]. Tố Hữu nhận xét: “Việc dịch tập Nhật ký trong tù là cực khó. Vì ngoài kiến thức uyên thâm về Hán học ra, người dịch phải là nhà thơ thì mới mong dịch thơ Bác thành thơ cho có hồn được. Chỉ có anh Nam Trân có đủ hai mặt này” [1].

Tháng 5/1957, tại Hội nghị thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, Nam Trân là hội viên sáng lập và được bầu vào Ban Chấp hành 25 người [1]. Ông mất ngày 21/12/1967 tại Hà Nội, lúc 60 tuổi [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Tập thơ *Huế, Đẹp và Thơ* (1939): nhà xuất bản và số bài thơ cụ thể – nguồn chỉ ghi “50 bài thơ” nhưng không ghi nhà xuất bản [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Chức vụ Án sát tỉnh Bình Định: thời gian đảm nhiệm [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, Huỳnh Văn Hoa, “Nam Trân, một tài hoa xứ Quảng”, 5/3/2017, https://baodanang.vn/nam-tran-mot-tai-hoa-xu-quang-3287540.html, truy cập 23/10/2026.