Lang Châu từng nằm ở giao điểm của đường bộ và đường thủy. Bài viết của Báo Đà Nẵng năm 2025 ghép phổ hệ các tộc, địa bạ và thư tịch để lần theo lịch sử làng, nhưng các mốc lập làng được ghi lại không hoàn toàn trùng nhau [1].
Làng hình thành khi nào?
Bài báo dẫn hai bản phổ hệ gốc của tộc Trương Đức và Lê Trung, ghi các vị thủy tổ đến lập làng vào năm Khai Đại nguyên niên, tức 1403. Tuy vậy, khi đối chiếu với sách *Ô châu cận lục* được bài báo ghi niên đại 1555, tác giả cho rằng Lang Châu có thể ra đời vào khoảng đầu thế kỷ 16. Tên gọi ban đầu được nêu là Nam Cường thôn, sau đổi thành Lang Châu xã [1].
Đây là hai cách xác định dựa trên loại tư liệu khác nhau: phổ hệ ghi mốc tổ tiên, còn thư tịch cho biết tên làng trong một giai đoạn muộn hơn. Nguồn hiện có chưa giải thích đầy đủ vì sao hai mốc cách nhau hơn một thế kỷ. Vì thế, không nên xem năm 1403 hay đầu thế kỷ 16 là niên đại đã được xác nhận chắc chắn [1].
Qua các thời kỳ, Lang Châu lần lượt thuộc những đơn vị hành chính khác nhau. Bài báo điểm qua hệ thống từ thời Lê, chúa Nguyễn, Tây Sơn đến triều Nguyễn; đầu thế kỷ 20 đến năm 1945, làng thuộc phủ Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam [1].
Một đại xã bên sông
Theo địa bạ đầu thế kỷ 19 mà bài báo dẫn, xã Lang Châu có diện tích 697 mẫu, 2 sào, 2 thước, 7 tấc, 4 phân. Quy mô ấy được tác giả đặt trong tương quan với các làng lớn của vùng Duy Xuyên xưa. Địa giới làng bao gồm Lang Châu Bắc, Lang Châu Nam và một phần thôn Hòa Bình thuộc xã Duy Phước cũ [1].
Đất phù sa thuận lợi cho nghề nông tang, nhất là trồng dâu nuôi tằm. Câu “Lang Châu dệt nhiều lụa trắng” được bài báo trích từ *Ô châu cận lục*, gắn nghề của làng với truyền thống tằm tang vùng Duy Xuyên [1].
Vị trí ven sông Thu Bồn và trên tuyến thiên lý Bắc – Nam tạo điều kiện cho hoạt động đi lại. Bài báo mô tả quán Lang Châu thời chúa Nguyễn là nhà trạm đầu tiên trên đường từ dinh Quảng Nam đi về phía Nam. Một dòng nước nhỏ mang tên sông Lang Châu vừa phục vụ tưới tiêu vừa có ghe thuyền qua lại theo hướng đông – tây [1].
Xứ Ông Nông và các thiết chế làng
Các thiết chế tín ngưỡng được kể gồm mộ tiền hiền, đình làng, miếu Văn Thánh, nhà thờ Tiền hiền, miếu Thành hoàng, nhà thờ tộc Trương và tộc Lê, cùng hai ngôi chùa Ba Yên và Bửu Phước. Bài báo dẫn *Quảng Nam xã chí* về các hoành phi, liễn đối sơn son thếp vàng trong những công trình này [1].
Ngày nay, tại xứ Ông Nông, các tộc phái đã trùng tu Tự đường Lang Châu trên khu vực nền móng đình và nhà thờ Tiền hiền xưa vào năm 1997. Bài báo cũng nhắc đến hai người có đường khoa cử: Trương Trọng Hữu, đỗ cử nhân năm 1876, và Lê Trung Lập, người thi đỗ cử nhân võ theo tư liệu được tác giả kết hợp [1].
Lang Châu làng xưa nằm trong vùng nay thuộc xã Nam Phước, theo bảng quy đổi các xã cũ [1]. Có thể đọc lịch sử làng trong không gian rộng hơn qua sông Thu Bồn, làng cổ Mỹ Xuyên, làng cổ Lộc Yên và thương cảng Hội An. Những bài ấy gợi các mạch cư trú, giao thương và nghề thủ công của xứ Quảng qua nhiều thời kỳ.
Tra cứu liên quan
- Tra thêm: Lang Châu trong Ô châu cận lục.
- Tra thêm: tiền hiền trong văn bia Quảng Nam.
- Làng và nghề truyền thống: làng trống Lâm Yên, làng mộc Kim Bồng
- Làng nghề xứ Quảng: làng lụa Mã Châu
Điều còn chưa rõ
- Phổ hệ ghi năm 1403 trong khi tác giả dựa vào thư tịch để ước đoán làng hình thành đầu thế kỷ 16; cần khảo sát bản gốc và đối chiếu thêm tư liệu [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Phạm vi các thôn hiện nay tương ứng với địa giới làng Lang Châu xưa cần được xác định chính xác bằng bản đồ địa chính hoặc tư liệu địa giới [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, “Thăm lại làng cổ Lang Châu”, 06/07/2025, https://baodanang.vn/tham-lai-lang-co-lang-chau-3265102.html, truy cập 23/10/2026.