Văn hoá

Nghề dâu tằm xứ Quảng: từ bãi bồi đến lò ươm Giao Thủy

Trên bãi bồi ven Vu Gia và Thu Bồn, dâu từng nối nghề trồng trọt với nghề dệt lụa. Hai bài viết của Báo Đà Nẵng lần theo dấu nghề từ tri thức Champa, các làng ven sông đến một cơ sở ươm tơ cơ khí ở Giao Thủy [1][2].

Một nghề đi theo dòng sông

Báo Đà Nẵng dẫn tư liệu về người Chăm xưa trồng dâu, nuôi tằm và trồng bông. Khi người Việt đến lập làng, họ tiếp nhận tri thức dân gian và nghề thủ công tại chỗ, trong đó có trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa [1].

Các làng Giao Thủy, Quảng Huế, Phước Bình và Hà Nha nằm ở vùng ven Vu Gia, nơi đất bồi phù sa hỗ trợ việc trồng dâu [1]. Dâu và tằm nối với các làng dệt ở phía Duy Xuyên. Cụm làng nghề của vùng rộng hơn còn có Mã Châu, Đông Yên, Thi Lai và Phú Bông [1]. Xem thêm làng lụa Mã Châu và xã Hà Nha.

Thời thịnh đạt và những chuyến hàng

Trong bài viết về hồi sinh vùng dâu, Báo Đà Nẵng ghi từ thế kỷ 17, cùng sự phát triển của Dinh trấn Thanh Chiêm, nghề dâu tằm và tơ lụa phát triển ở xứ Quảng [2]. Tác giả dẫn nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương về sự kết hợp kinh nghiệm trồng dâu từ Đàng Ngoài, tri thức Champa và kỹ thuật dệt của người Minh Hương [2].

Bài báo năm 2024 kể lụa từ Duy Xuyên, Điện Bàn được đưa tới thương cảng Hội An; Cù Lao Chàm là nơi thương thuyền có thể mua sản vật như tơ lụa [1]. Thương mại và nghề thủ công gắn với nhau: nguồn nguyên liệu ven sông đi vào khâu dệt, còn sản phẩm tìm được thị trường qua cảng. Bối cảnh cảng thị được trình bày trong bài Hội An, thương cảng Faifo.

Trường An sau những năm chiến sự

Cuối thế kỷ 18, chiến sự và các biến động xã hội khiến ruộng dâu bị bỏ hoang, người dân phiêu tán, gia súc hoang dã phá hoại đồng bằng [2]. Bài báo nêu vùng dâu Trường An, nay thuộc xã Hà Nha, bị hoang hóa trong vòng sáu năm [2].

Theo bài viết, chính quyền Tây Sơn thời vua Thái Đức khuyến khích khai hoang bằng cơ chế canh trưng, miễn thuế trong ba năm cải tạo đất; cơ chế tiên chiếm cho người khai phá trước quyền canh tác [2]. Nhà nước cũng lập lại điền bạ và áp dụng lệ thuế riêng với ruộng dâu [2].

Bài báo dẫn bản kê khai thế thứ họ Mai lập năm 1895, theo đó Mai Thế Nghị ở làng Trường An xin canh trưng đất vào năm Thái Đức thứ tư, tức 1781. Ông cùng dân làng tổ chức khai hoang vùng dâu [2]. Từ ba mẫu đất hoang hóa được nêu trong bài, diện tích trồng dâu ở Trường An đạt hơn 107 mẫu theo địa bạ triều Nguyễn lập năm 1812 [2].

Từ tơ thủ công đến máy móc

Đầu thế kỷ 20, Công ty Delignon tìm đến Giao Thủy và lập cơ sở ươm tơ hấp kén, được người địa phương gọi là Tiệm ươm Giao Thủy [2]. Bài báo ghi cơ sở có 100 chảo tơ và hơn 300 công nhân, dùng máy thay cho phương pháp thủ công [2]. Ngày 1/5/1929, công ty khánh thành nhà máy kéo sợi Giao Thủy [2].

Ở quy mô rộng hơn, nghề tơ lụa Duy Xuyên về sau suy thoái do biến động lịch sử, sự phát triển công nghiệp và cạnh tranh từ lụa giá rẻ [1]. Bài báo năm 2024 đặt vấn đề liên kết các công đoạn từ trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa đến tiêu thụ như một hướng để nghề có thể phục hồi [1]. Đây là đề xuất được bài báo nêu, chưa phải bằng chứng rằng chuỗi sản xuất ấy đã được khôi phục.

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Tình trạng hiện nay của nghề trồng dâu, nuôi tằm và hoạt động của Tiệm ươm Giao Thủy chưa được hai bài báo mô tả đầy đủ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Bài viết năm 2024 nói nghề suy thoái, còn bài năm 2026 tập trung vào lịch sử hồi sinh vùng dâu; hai nguồn không cung cấp khảo sát hiện trạng để xác định quy mô nghề ngày nay [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Nghề dâu tằm và truyền thừa từ vùng đất thiêng”, 13/8/2024, https://baodanang.vn/nghe-dau-tam-va-truyen-thua-tu-vung-dat-thieng-3139431.html, truy cập 23/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Hồi sinh vùng dâu tằm xứ Quảng thời Tây Sơn”, 24/5/2026, https://baodanang.vn/hoi-sinh-vung-dau-tam-xu-quang-thoi-tay-son-3337823.html, truy cập 23/10/2026.