Văn hoá

Lịch sử nghề rèn Quảng Nam qua thư tịch

Nghề rèn sắt tại Quảng Nam có nguồn gốc lâu đời, gắn liền với nhu cầu chế tạo nông cụ và đồ dùng kim loại trong đời sống dân cư xứ Quảng [1]. Bên cạnh ký ức truyền khẩu của các thợ rèn qua nhiều thế hệ, sự tồn tại và phát triển của nghề rèn trên đất Quảng đã được ghi nhận trong nhiều thư tịch và tài liệu lịch sử [1].

Truyền khẩu làng nghề và dấu vết cổ xưa

Theo tác giả Nguyễn Dị Cổ, tại Quảng Nam, các di chỉ khảo cổ như Bãi Ông, Hậu Xá II, An Bang, Thanh Chiếm, Đại Lãnh đã phát hiện nhiều dụng cụ bằng sắt của cư dân tiền Sa Huỳnh, phản ánh kỹ thuật rèn sắt cổ xưa của vùng đất này [1]. Trong đời sống dân gian, người chủ và thợ tại các xóm rèn thường ước tính niên đại nghề rèn theo số thế hệ nối nghiệp mà không có tài liệu thư tịch đi kèm [1].

Cụ thể, thợ rèn tại xóm Phú Nhiêu, làng Thạnh Phú (trước 7/2025: xã Đại Chánh, huyện Đại Lộc), nay thuộc xã Phú Thuận cho biết nghề có tuổi đời trên dưới 200 năm [1]. Tại Sơn Phong, Cẩm Châu (thuộc thành phố Hội An cũ), nghề rèn được thợ cho hay đã trải qua 6 đời [1]. Tại Quế Châu (thuộc huyện Quế Sơn cũ), người dân kể nghề đã có 3 thế kỷ [1]. Ngoài ra, các trung tâm nghề rèn khác cũng hình thành sớm như lò rèn ba dòng họ Lê, Phạm, Lâm ở Hội An, nghề rèn Gia Cát (Quế Sơn), xóm rèn Hồng Lư ở Tam Kỳ, rồi sau này lan truyền đến vùng núi phía tây [1].

Nghề rèn trong thư tịch cổ và địa chí triều Nguyễn

Trong thư tịch, “Phủ tập Quảng Nam ký sự” ghi nhận nghề rèn với việc cải tiến kỹ thuật thêm trạnh phụ trên mỏ cày để tăng diện tích đất cày cấy, đồng thời ghi chính sách khuyến khích miễn thuế chợ cho thợ rèn và một số thợ thủ công khi bán hàng hóa [1]. Đến cuối thế kỷ 19, tác phẩm “Quảng Nam tỉnh phú” của Trương Trọng Hiếu khi mô tả các nghề thủ công đã nhắc đến lò rèn các xã Phước Kiều, Phú Xuân giữ gìn quy củ tổ phụ bên cạnh xưởng mộc Kim Bồng, Phú Thị [1]. Giữa thế kỷ 19, tác phẩm văn tế thợ rèn bằng chữ Nôm của Tú Quỳ cũng xác nhận sự tồn tại lâu bền của nghề rèn trong xã hội Quảng Nam [1].

Theo “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”, thợ nấu kim khí đồng, chì, sắt ở Quảng Nam được triều đình sung vào ngạch thợ, chia thành hai ban luân phiên về kinh đô Huế phục vụ và nhận khẩu phần mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo [1]. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), triều đình ra lệnh toàn bộ con em thợ nấu kim khí Quảng Nam đi làm ăn ở địa phương khác phải rút về nguyên quán để bổ sung vào ngạch thợ [1]. Sách “Đồng Khánh địa dư chí” ghi nhận nghề rèn tại tỉnh Quảng Nam có làm nghề và có sản phẩm, phân bố không đồng đều giữa các huyện [1]. Sách này cũng chép thuế sắt luyện cả năm là 8.880 cân, có 317 người thuộc diện biệt nạp nộp thuế sắt chín, và xã Phú Xuân Trung thuộc huyện Hà Đông luyện sắt sống cùng sắt rèn [1]. Sách “Đại Nam nhất thống chí” cho biết huyện Duy Xuyên có sản xuất sắt và nộp thuế mỗi năm 60 cân [1].

Nguồn nguyên liệu và mạng lưới buôn bán

Dưới thời các chúa Nguyễn, xứ Đàng Trong và vùng Quảng Nam gặp khó khăn về sắt thép, phải phụ thuộc vào nguồn kim loại nhập khẩu qua thương mại [1]. Tài liệu chữ Hán của Trung Quốc và Nhật Bản ghi nhận năm 1577 có 14 ghe mành từ Phúc Kiến chở sắt, đồng và sành sứ đến Thuận Hóa [1]. Đến nửa cuối triều Nguyễn, cư dân Quảng Nam mới tiến hành khai thác và luyện quặng sắt tại địa phương [1].

Sản phẩm của các lò rèn Quảng Nam rất đa dạng, từ dao, rựa, liềm, cuốc xẻng, cưa đục dùng trong nông nghiệp và sinh hoạt hằng ngày đến các loại vũ khí như đao, kiếm, mã tấu [1]. Sang thời Pháp thuộc, các công trình đường bộ, cầu cống, đường sắt phát triển kéo theo nhu cầu lớn về cơ khí và rèn sắt [1]. Theo lời kể của ông Trương Như Sơn (sinh năm 1925 tại làng Phú Nhiêu), nhiều thương lái như bà Trợ Sanh ở xã Đại Đồng, ông Khế ở xã Đại Tân, ông Trương Khôi ở xã Đại Cường đặt lò rèn làm các loại rựa bạt, rựa đốn tre, dao phay, dao xép, giằng cắt lúa và cuốc bàn, cuốc xỉa [1]. Thương lái sau đó gánh hàng đi bán lẻ hoặc phân phối tại các chợ khắp vùng Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An và ra tận Đà Nẵng [1].

Nghề rèn cũng đi vào đời sống văn hóa qua các câu ca dao, câu đố và bài “Tỉnh quốc hồn ca” năm 1907 của chí sĩ Phan Châu Trinh [1]. Hằng năm vào ngày 17 tháng 2 âm lịch, thợ rèn xứ Quảng tề tựu tại làng La Qua thuộc phủ Điện Bàn cũ làm lễ giỗ tổ tôn vinh vị tổ nghề Lư Cao Sơn [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Năm thành lập cụ thể và các văn bản thư tịch trực tiếp của các xóm rèn Phú Nhiêu, Quế Châu ngoài số liệu ước tính theo truyền khẩu [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Niên đại biên soạn và bản văn trọn vẹn của tài liệu “Phủ tập Quảng Nam ký sự” [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quảng Nam, “Lò tạo xoay vần”, 13/04/2023, https://baodanang.vn/lo-tao-xoay-van-3026637.html, truy cập 24/10/2026.