Văn hoá

Muối xứ Quảng qua địa danh và thư tịch thời Nguyễn

Vị mặn của nghề làm muối thời xưa vẫn còn lưu lại qua nhiều tên đất, văn bia và thư tịch cổ tại xứ Quảng [1]. Dưới thời Nguyễn, muối là mặt hàng chịu sự quản lý của nhà nước với quy định rõ về thuế khóa và kho chứa dự trữ [1].

Dấu tích nghề muối qua địa danh

Theo Báo Đà Nẵng, bờ biển vùng đất này trải dài từ chân đèo Hải Vân đến vịnh Dung Quất [1]. Vào mùa mưa, lớp nước mặt ở vùng ven bờ có độ mặn thấp hơn ngoài khơi, khiến sản lượng muối nơi đây không nhiều như các vùng lân cận như Sa Huỳnh hay Cà Ná [1]. Dù vậy, dấu tích nghề muối vẫn hằn sâu trong hệ thống tên đất cổ truyền [1].

Nguồn gốc nghề muối thể hiện trước hết qua nhóm địa danh có chữ “diêm” [1]. Trong Địa bạ Quảng Nam lập năm 1812 dưới thời vua Gia Long, các xã Diêm Điền, Diêm Phố và Bình An Diêm Trường đã được ghi chép [1]. Tác phẩm Quảng Nam tỉnh phú ở thế kỷ 19 cũng nhắc đến địa danh Diêm Điền gắn với nhân vật đạo sĩ tên Lánh [1].

Bên cạnh đó là nhóm địa danh có chữ “lỗ” như Lỗ Giản xã (về sau đổi thành Lỗ Giáng, nơi có đình Lỗ Giáng), Lỗ Hương Tây châu, Lỗ Hương Thị châu và nguồn Lỗ Đông [1]. Nhóm địa danh mang chữ “nại” có Nại Hiên (xem thêm tên gọi Nại Hiên), từng đi vào câu ca dao: “Nại Hiên là Nại Hiên ne / Lấy nước làm muối lấy tre làm nồi” [1]. Nỗi vất vả của diêm dân cũng được dân gian đúc kết qua câu ca: “Dân nại tui dại như trâu / Trời chang chang nắng giơ đầu ra phơi” [1].

Nghĩa của các chữ nại, lỗ và diêm

Các từ ngữ cổ phản ánh sự phân loại cụ thể về nguồn gốc và hình thức làm muối [1]. Theo giải thích trong nguồn: – “Nại” vừa chỉ ruộng muối, vừa dùng làm đơn vị tính diện tích làm muối [1]. – “Lỗ” chỉ nguồn muối sẵn có trong tự nhiên hoặc các mỏ muối [1]. – “Diêm” chỉ loại muối do con người lao động làm ra, từ đó xuất hiện các danh xưng như diêm dân, diêm hộ [1]. Do từ “diêm” đồng âm với Diêm Vương nơi âm phủ, dân gian còn có cách nói đùa “đi bán muối”, tức là đi gặp Diêm Vương [1].

Đê ngăn mặn ở Hóa Khuê

Nước mặn phục vụ việc làm muối nhưng lại gây khó khăn cho nông nghiệp trồng lúa [1]. Tấm bia Hóa Khuê Đông xã hà đê kỷ niệm bi chí do tú tài Hồ Thăng Doanh soạn (theo chú thích ảnh trong bài, bia ở khu vực cầu Bờ Quan, phường Ngũ Hành Sơn) đã ghi lại sự việc này [1].

Văn bia chép rằng ba mươi năm trước đó “biển dâng sóng mặn, đất ruộng ô nhiễm”, lúa hai vụ chỉ cấy được một nửa và thu hoạch được một phần ba [1]. Theo văn bia, từ khi có đê, việc nhà nông thuận tiện hơn và thủy lợi phát triển [1].

Muối trong thư tịch cổ triều Nguyễn

Từ thế kỷ 18, trong sách Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã xếp muối vào danh mục các mặt hàng sản xuất tại Quảng Nam cung ứng cho vùng Thuận Hóa [1]. Theo số liệu của cuốn sách này, thuế ruộng muối ở Đàng Trong thời điểm đó thu được 221 quan, chiếm 0,27% tổng số thuế ruộng đất [1].

Đến thời vua Tự Đức, sách Đại Nam nhất thống chí ghi nhận muối là sản vật sản xuất tại 2 huyện Hòa Vang và Lễ Dương, mức thuế nộp thay bằng tiền là 3 tiền cho mỗi phương muối [1]. Cuốn Đồng Khánh địa dư chí sau đó tiếp tục ghi nhận sản vật muối thô và nước mắm (liên hệ nghề mắm tại nước mắm Nam Ô) ở huyện Hà Đông thuộc phủ Thăng Hoa; trong đó 3 xã có nghề làm muối là Diêm Phố, Bình An Diêm Trường và Phú Vinh (tên trong Địa bạ năm 1812 là Phú Vinh Thượng xã) [1].

Quản lý thuế và kho dự trữ triều đình

Dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, nhà nước thiết lập chế độ kiểm soát chặt chẽ đối với nghề muối [1]. Địa bạ năm 1812 ghi nhận xã Diêm Phố có 9 nại ruộng muối, còn xã Nại Hiên Đông Tây có tới 65 nại [1].

Về chính sách thuế, từ thời chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1738, chính quyền thu thử trong 3 năm liên tiếp với các mức 6 sọt, 4 sọt và 3 sọt muối trên mỗi người để đánh giá sức dân trước khi quy định mức thuế thường niên [1].

Đến năm Minh Mệnh thứ 18 (năm 1837), Bộ Hộ tâu rằng muối thu thuế chi dùng không bao nhiêu, chứa lâu ngày sinh ẩm ướt, nên xin cho dân nộp bằng tiền; vua y theo [1]. Tuy vậy, vua vẫn chỉ dụ các tỉnh lớn như Quảng Nam, Nghệ An thường phải chứa 1.500 phương muối, tức Quảng Nam hằng năm phải nộp 1.500 phương muối vào kho [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Vị trí chính xác hiện nay của các làng nghề làm muối cũ như Bình An Diêm Trường hay Diêm Phố trong địa bạ 1812 [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Quy chuẩn dung tích của một “phương muối” và khối lượng một “sọt muối” theo hệ đo lường thời Nguyễn [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Niên đại cụ thể khắc dựng tấm bia đê ngăn mặn Hóa Khuê chưa được nguồn báo nêu rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Mặn mòi đất Quảng”, 10/05/2026, https://baodanang.vn/man-moi-dat-quang-3335976.html, truy cập 24/10/2026.