Văn hoá

Hoành phi, liễn đối trong không gian thờ tự xứ Quảng

Trong các công trình tín ngưỡng truyền thống ở xứ Quảng, hoành phi và liễn đối là những thành tố trang trí bằng chữ Hán Nôm được bố trí trang trọng nơi gian thờ [1][2]. Những tấm biển sơn son thếp vàng hay dải lụa câu đối không chỉ hoàn thiện không gian kiến trúc mà còn đóng vai trò như lời răn dạy gia phong, ghi tạc đạo lý nhớ nguồn và ước vọng bình yên của làng xã [1]. Tùy vào tính chất của nhà thờ tộc, đình làng hay cửa chùa, nội dung chữ khắc lại mang những lớp ý nghĩa riêng biệt [1].

Phân biệt hoành phi, liễn đối, trướng và nghi môn

Theo giải thích trên Báo Đà Nẵng, đồ tế tự dạng chữ viết trong nếp xưa được chia thành nhiều thể loại với quy cách thể hiện khác nhau [2]:

  • Hoành phi: Còn được gọi là “biển” hay “bức hoành”, vốn là một dạng thư họa trình bày theo chiều nằm ngang, thường khắc từ 3 đến 5 chữ Hán và treo trên cao phía trên bàn thờ hoặc chính điện [1][2]. Ngoài nơi thờ tự, hoành phi xưa còn được treo ở phòng khách, phòng đọc sách hoặc phòng ở [2].
  • Liễn đối: Cách gọi chệch từ “liên đối”, gồm hai câu đối nhau (chữ đối chữ, nghĩa đối nghĩa), treo ở hai cột đối xứng trong nhà thờ, đền miếu hoặc cổng tam quan [2]. Liễn đối có thể viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ trên chất liệu gỗ, giấy, vải vóc hoặc lụa có nẹp tròn để cuộn [2].
  • Bức trướng: Khác với hoành phi viết ngang, trướng là tấm vải hoặc lụa lớn chỉ viết từ 3 đến 4 chữ theo chiều dọc [2]. Dẫn sách “Đối liễn Hán, Nôm” của tác giả Lê Đức Lợi, bài báo cho biết trướng dùng trong việc khánh hỷ thường có nền đỏ chữ đen hoặc nền vàng chữ đỏ (gọi là “bức trâm”); trướng điếu tang của con cháu thân tộc mang màu trắng chữ đen hoặc màu xanh nước biển, còn người quen phúng viếng thường dùng nền xanh hoặc vàng [2].
  • Nghi môn: Gọi tắt là “nghi”, bắt nguồn từ khái niệm cửa chính lần thứ hai trong quan thự theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh [2]. Tại điện thờ, nghi môn được làm bằng gỗ hoặc vải ghép thành hình chữ U úp ngược, phần giữa giống bức hoành nằm ngang và hai bên rủ xuống hai vế câu đối [2].

Ý nghĩa chữ khắc tại nhà thờ tộc và đình chùa

Tại các ngôi nhà thờ tộc xứ Quảng, hoành phi được ví như những lời gia huấn ngắn gọn của tổ tiên truyền lại cho thế hệ sau [1]. Chủ đề cốt lõi là đạo hiếu và cội nguồn qua các bức đại tự như “Hiếu”, “Tôn thân”, “Ẩm thủy tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn) hay “Mộc bổn thủy nguyên” (cây có cội, nước có nguồn) [1]. Bên cạnh đó là các bức biển nhắc nhở việc tích đức để lại phúc lành cho con cháu như “Đức lưu quang”, “Tổ đức lưu phương”, “Quang tiền dụ hậu”, “Tích thiện dư khánh”, cùng lời dặn giữ gìn hòa khí trong họ hàng như “Gia hòa vạn sự hưng” [1].

Tại đình làng, nội dung hoành phi mở rộng từ phạm vi huyết thống gia tộc ra toàn thể cộng đồng dân cư [1]. Chữ khắc ở đình làng thường tôn vinh công lao của Thành hoàng cùng các bậc tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ [1]. Những câu đại tự như “Hộ quốc tý dân” (bảo vệ đất nước, che chở nhân dân) hay “Đức trạch trường lưu” (ân đức lưu truyền lâu dài) phản ánh ước vọng quốc thái dân an, xóm làng được chở che bình yên [1].

Tại các ngôi chùa, hoành phi chuyển sang truyền tải giáo lý giác ngộ, hướng thiện của đạo Phật thông qua các cụm từ quen thuộc như “Từ bi hỷ xả”, “Phổ độ chúng sinh”, “Hoằng dương Phật pháp”, “Giác ngộ” hoặc “Thanh tịnh” [1].

Dấu ấn hiếu học và ước vọng đời thường

Bên cạnh yếu tố thờ phụng, hoành phi ở xứ Quảng còn ghi lại nếp sống trọng học thức của các dòng họ [1]. Nhiều gia đình treo các bức biển “Thi thư gia trạch” (gia đình lấy sách vở, văn chương làm nền nếp), “Văn hành trung hiếu” hay “Thư hương” để nhắc nhở con cháu theo đuổi con đường học tập, tu dưỡng nhân cách làm người [1].

Bên cạnh những triết lý đạo đức, các bức hoành chạm khắc hình cuốn thư tại nhà thờ và nhà ở còn thể hiện mong ước đời thường qua những đại tự như “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, “Khang”, “Ninh”, “Thái”, “Hưng” [1]. Cư dân không chỉ cầu mong sức khỏe, an bình cho riêng gia đình mà còn gửi gắm nguyện vọng về sự thịnh vượng chung cho cả quê hương [1].

Tra cứu liên quan

Điều còn chưa rõ

  • Nguồn gốc thợ mộc và phường thợ chạm khắc hoành phi sơn thếp truyền thống tại các làng quê xứ Quảng (như thợ mộc Kim Bồng hay thợ dân gian địa phương) chưa được bài viết nêu rõ [CẦN KIỂM CHỨNG].
  • Bài báo năm 2026 không nêu các bức hoành phi được dẫn treo ở di tích cụ thể nào, niên đại bao nhiêu [CẦN KIỂM CHỨNG].

Cập nhật: tháng 10/2026

Nguồn tham khảo

  1. Báo Đà Nẵng, “Hoành phi trong không gian thờ tự”, 05/10/2026, https://baodanang.vn/hoanh-phi-trong-khong-gian-tho-tu-3354172.html, truy cập 24/10/2026.
  2. Báo Đà Nẵng, “Liễn, trướng, hoành phi, nghi”, 19/10/2008, https://baodanang.vn/lien-truong-hoanh-phi-nghi-3226022.html, truy cập 24/10/2026.