Người Pháp kết án ông ngang với Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng, nhưng hàng thế kỷ qua các nhà nghiên cứu người Việt lại xếp ông sau bộ ba danh nhân Duy tân [1]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân từng than: “Bệnh học khoa cử in sâu vào tâm não của sĩ phu” khiến công lao của Phan Thúc Duyện trở nên “mờ nhạt” [1].
Cử nhân của khoa thi đặc biệt
Phan Thúc Duyện hiệu Phong Thử, tự My Sanh, sinh năm 1873 trong một gia đình nông dân đông anh em tại làng Phong Thử [1]. Ông học ở trường Đốc Quảng Nam cùng với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Nguyễn Đình Hiến [1]. Năm 1900, ông đỗ vị thứ 6 trong khoa thi Hương tại trường thi Quảng Nam – một khoa đặc biệt, khi tỉnh này có 14 người đỗ trong số 42 người cả trường, lại chiếm 4 vị thứ đầu bảng [1]. Khoa thi ấy được giới sĩ phu gán tên “tứ tuyệt”, “tứ hổ”, “tứ hùng” để nói về thành tích của Quảng Nam [1].
Nhiều người đỗ khoa này sau đó bị *Quốc triều Hương khoa lục* của Cao Xuân Dục ghi thêm chữ “can tội” phía sau tên, vì dám chống lại chế độ thực dân phong kiến [1]. Phan Thúc Duyện là một trong số đó.
Đáng chú ý, sách *Quốc triều Hương khoa lục* lại ghi tên ông là Phan Sung thay vì Phan Thúc Duyện – các nhà nghiên cứu cho rằng do chữ “Duyện” và chữ “Sung” có tự dạng giống nhau [1].
Nhà Duy tân thực hành
Thi đỗ xong, Phan Thúc Duyện không chịu ra làm quan mà ở nhà cùng các đồng hương thực hiện công cuộc Duy tân với mục tiêu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” [1]. Ông đảm nhận lĩnh vực thương mại – phần khó khăn và mới mẻ nhất đối với các nhà nho thời ấy [1].
Đầu năm 1906, ông thành lập Hợp thương Diên Phong tại Phong Thử – tổ chức kinh doanh được nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đánh giá là “đầu não cho các thương cuộc trong tỉnh” và “cả nước chưa có thương hội nào lớn hơn” [2]. Hợp thương đặt ở gần sông Bàu Lớn, có một nhà lầu bề thế, buôn bán thổ sản – vải, đường, heo, dầu phụng, đậu – bằng ghe bầu vượt biển đi các tỉnh khác, “có dụng ý tranh thương với người Trung Hoa” [2]. Số nhân viên lên tới 40 người, phạm vi buôn bán vươn ra tận Hà Nội nên người đương thời còn gọi là “quốc thương” [2]. Năm 1906, khi xây dựng Hợp thương Hội An, các lãnh tụ phong trào cũng cử Phan Thúc Duyện điều hành cơ sở này [1].
Song song với thương hội, ông là người sáng lập, quản lý và giảng dạy ở Nghĩa thục Diên Phong – một trong hai trường lớn nhất của phong trào Duy tân tại Phong Thử [1]. Trường có trên dưới 200 học sinh, thường tổ chức các buổi diễn thuyết có hội thảo để các bậc khoa cử tới dự; không liên hệ với chính quyền nên “gây tiếng vang rộng lớn hơn cả” [2]. Nguyễn Văn Xuân so sánh hai cơ sở Diên Phong chỉ có thể sánh với Công ty Liên Thành (Phan Thiết) và Đông Kinh nghĩa thục (Hà Nội) [2].
Ngoài thương hội và nghĩa thục, ông còn là đồng tác giả của các Nông hội trong tỉnh như Cờ Vĩ, Yến Nê, Bửu Sơn, Mỹ Sơn – nhằm đưa nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa, gắn liền với các thương hội [1].
Đày Côn Đảo và những năm về sau
Năm 1908, nhân vụ kháng thuế, Phan Thúc Duyện bị kết án ngang mức với Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng: “xử tử, phát án Côn Lôn” [1]. Ông bị đày Côn Đảo cùng đợt với Huỳnh Thúc Kháng [1]. Đến năm 1919, nhờ con trai vốn có quốc tịch Pháp khiếu nại, ông mới được trả tự do nhưng bị chỉ định an trí ở Quảng Bình [1]. Tại đây ông xây dựng một trang trại theo mô hình vườn – ao – chuồng như một thử nghiệm sản xuất nông nghiệp kiểu mới; người dân Quảng Bình sau này gọi vùng đó là “vùng đất Quảng Nam” [1].
Năm 1930, ông về quê. Năm 1932, ông vào Phan Thiết xây dựng “nhàn điền” – có lẽ để liên lạc với Công ty Liên Thành, một tổ chức Duy tân ở phía Nam [1]. Năm 1935, ông về lại Quảng Nam cộng tác với một số nhà thầu để làm đường sắt, xây ga Phước Cang (Thăng Bình) [1]. Năm 1937, ông trở về Phong Thử lần thứ hai và vận động xây dựng sân vận động (gần 10.000 m²), chợ, nhà hát, đường sá, quy hoạch lại nhà cửa, lập hương ước [2]. Chợ Phong Thử khánh thành có cả Tổng đốc và Công sứ về cắt băng [2].
Một ngôi làng quê thập niên 1940 được mô tả: “Ban ngày thì xe hơi, xe lửa qua lại, ghe thuyền đua nhau cập bến, chợ người đông mua bán ồn ào, học sinh cắp sách đến trường, chiều về trẻ em người lớn đá banh, đêm đến người đi xem hát…” [2] – đó là Phong Thử dưới bàn tay của Phan Thúc Duyện.
Ông mất ngày 3/10/1944, thọ 72 tuổi [1].
Tra cứu liên quan
- Quê: làng Phong Thử.
- Nhân vật cùng thời: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng
- Địa danh liên quan: xã Điện Bàn Tây
- Bối cảnh lịch sử: bảng tra phường xã Đà Nẵng
Điều còn chưa rõ
- *Quốc triều Hương khoa lục* ghi tên ông là Phan Sung hay Phan Thúc Duyện – các nhà nghiên cứu cho là do chữ viết giống nhau nhưng chưa có xác nhận từ bản gốc [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm thành lập chính xác của Hợp thương Diên Phong: nguồn 1 và nguồn 2 đều ghi “1906” nhưng nguồn 2 ghi “đầu năm 1906” còn nguồn 1 ghi “1906 – 1907” khi đề cập thời kỳ hoạt động [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Các hoạt động cụ thể sau năm 1937 cho đến khi mất (1944) không được hai nguồn đề cập [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Đà Nẵng, Lê Thí, “Ông cử làng Phong Thử”, 17/12/2016, https://baodanang.vn/ong-cu-lang-phong-thu-3034990.html, truy cập 23/10/2026.
- Báo Đà Nẵng, Lê Thí, “Phong Thử – làng Duy tân”, 12/3/2017, https://baodanang.vn/phong-thu-lang-duy-tan-3098919.html, truy cập 23/10/2026.