Vùng đất Hà Đông – Tam Kỳ xưa là nơi quy tụ nhiều dòng tộc di cư từ các tỉnh phía Bắc như Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa và Hải Dương [1]. Trải qua nhiều biến cố thiên tai và chiến tranh, hậu duệ các dòng họ nơi đây vẫn gìn giữ được những tư liệu gia phả nguyên vẹn [1]. Trong đó, có những bản phả hệ và văn bia phả ký mang hình thức thể hiện rất đặc biệt, từ chép trên vải dệt thủ công, khắc trên bia đá cho đến khắc bằng nhiều thứ tiếng [1].
Bản gia phả chép trên vải của tộc Đinh
Tại nhà thờ tộc Đinh ở thôn Hòa Hạ, xã Tam Thanh cũ (trước 7/2025 thuộc thành phố Tam Kỳ; nay thuộc phường Quảng Phú), gia tộc còn cất giữ một bản phả hệ quý giá chép trên tấm vải trắng dệt thủ công, dân gian gọi là “vải tám” [1].
Tấm vải này có chiều rộng chừng 1,2 mét và chiều dài khoảng 3,6 mét [1]. Toàn bộ sơ đồ phả hệ được bố trí theo trục dọc thẳng đứng, mô phỏng thể thức của các bức cuốn thư khổ dài thời Nho học [1]. Trên dải vải, tác giả đã ghi chép cẩn thận thế thứ các thế hệ, họ tên người trong họ cùng người phối ngẫu, số con cháu sinh hạ, nơi cư trú qua từng thời kỳ cũng như phần mộ và ngày kỵ giỗ [1]. Đặc biệt, ở phần ghi chép những người sống cùng thời, tác giả đã tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc “sinh chu – tử mặc”, tức người đang sống viết mực đỏ, người qua đời viết mực đen [1].
Người chấp bút bản phả hệ bằng chữ Nho điêu luyện này là cụ Đinh Văn Thông, hậu duệ đời thứ 13 của tộc Đinh làng Hòa Thanh (tổng Phú Quý, huyện Hà Đông, phủ Tam Kỳ) [1]. Cụ Thông sinh năm 1871, thi đỗ tú tài Nho học vào đầu thế kỷ 20 và trở thành thầy đồ dạy học có tiếng ở dải duyên hải phía nam Tam Kỳ [1]. Khi triều đình đình chỉ các kỳ khoa cử Nho học, chính quyền sở tại đã mời cụ về giảng dạy môn chữ Nho tại trường tiểu học Pháp – Việt của phủ Tam Kỳ, khiến người dân quen gọi cụ là “thầy Tú Đinh” [1].
Theo nội dung ghi lại trên dải vải, vị thủy tổ của tộc Đinh làng Hòa Thanh có quê gốc ở Ninh Bình, ban đầu thiên di vào khai cơ tại vùng ven biển huyện Điện Bàn (nay thuộc khu vực thị xã Điện Bàn cũ) [1]. Sau đó, các thế hệ tiếp theo dời dần vào vùng ven biển Thăng Bình cũ, trước khi hậu duệ đời thứ 12 chuyển đến định cư ổn định tại vùng ven biển Hà Đông – Tam Kỳ [1].
Tấm bia phả hệ đá năm 1858 của tộc Trần
Tại thôn Bích An, xã Tam Xuân 1 cũ (trước 7/2025 thuộc huyện Núi Thành; nay thuộc xã Tam Xuân), nhà thờ tộc Trần đang lưu giữ một tấm bia đá ghi chép phả hệ dòng họ [1]. Tấm bia có kích thước cao 1,2 mét và chiều ngang 1 mét [1].
Mặt chính diện của bia khắc 24 dòng đứng gồm khoảng 600 chữ Nho với các cỡ chữ phân tầng rõ rệt [1]. Phần trán bia khắc dòng chữ lớn nằm ngang: “Trần Đại lang tự sở xuất”, mang ý nghĩa ghi lại dòng dõi sinh hạ từ cụ tổ họ Trần trở xuống [1]. Hàng chữ có kích thước to nhất trên thân bia ghi mốc thời gian dựng bia: “Hoàng triều Tự Đức thập nhất niên, thất nguyệt, thượng hoán, cát nhật”, tức bia được lập vào những ngày đầu tháng bảy âm lịch năm Tự Đức thứ 11 (năm 1858) [1].
Phần chữ cỡ vừa thể hiện 8 đời con cháu nối tiếp nhau, tính từ cụ thủy tổ Trần Đại lang cho tới ông Trần Ngọc Súy, người đứng tên tạo lập bia [1]. Xen kẽ là các dòng chữ nhỏ cước chú cụ thể nơi chôn cất, ngày giỗ chạp và hành trạng của những nhân vật quan trọng trong họ [1]. Nổi bật trong số đó là cụ Trần Hưng Nhượng thuộc đời thứ sáu, từng giữ trọng trách làm thầy dạy học cho hoàng tử Hồng Nhậm, người sau này lên ngôi hoàng đế Tự Đức [1].
Ở phần chân bia đá, có một dòng chữ ghi rõ văn bia do Phó bảng Nguyễn Dục, người huyện Hà Đông, khi đó đang giữ chức Tri phủ Hải Dương kiêm hàm Trứ tác lang ở Nội các triều đình, trực tiếp soạn thảo và hiệu duyệt (“Hà Đông huyện Phó bảng thăng thụ Hải Dương tri phủ sung Nội các Trứ tác lang Nguyễn Dục phóng duyệt”) [1]. Việc một vị quan khoa bảng đương triều duyệt văn bia là niềm vinh hiển lớn của gia tộc thời bấy giờ [1].
Các bản văn bia phả ký đa ngữ
Ngoài vải và đá đơn ngữ, vùng đất Tam Xuân cũ còn ghi nhận những văn bia phả ký được khắc bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên cùng một di tích [1].
Tại mộ ông tiền hiền Lê Tây Trụ, đồng tiền hiền làng Phú Hưng (tổng Phú Quý, huyện Hà Đông cũ; nay thuộc thôn Phú Bình, xã Tam Xuân), có một bài minh độc đáo khắc trong khung hình ngôi tháp ba tầng [1]. Bài minh được chia làm ba phần với ba thứ chữ: tầng trên cùng khắc chữ Nho, tầng giữa khắc chữ Pháp và tầng đáy khắc chữ Quốc ngữ La-tinh [1].
Nội dung bài minh cho biết các vị thủy tổ tộc Lê xuất thân từ vùng cửa biển Thần Phù (Nghệ An) [1]. Dưới thời vua Lê Thánh Tông (niên hiệu Hồng Đức), tổ tiên họ Lê vâng mệnh theo quân tiến vào tiếp quản đất Chiêm Thành rồi ở lại cắm cơ lập nghiệp [1]. Các vị đã cùng với những dòng tộc Nguyễn, Trần, Đỗ chung tay khai phá ruộng đất công tư, xác định cương giới và xin lập nên xã hiệu Tân Khương [1]. Đến thời niên hiệu Chánh Hòa, làng đổi tên thành Phú Khương, rồi sau đổi thành Phú Hưng [1].
Tương tự, trên bia mộ tiền hiền tộc Nguyễn làng Bích Ngô (tổng Đức Hòa cũ; nay ở khu nghĩa trang Gò Trầu thuộc xã Tam Xuân), bài văn phả ký lại được thể hiện kết hợp giữa ba thứ chữ Nho, Nôm và Quốc ngữ [1]. Tấm bia tường thuật quá trình các vị thủy tổ tiến vào phía nam sông Tam Kỳ, mở mang bờ cõi lập nên hai thôn Cây Vông và Cây Bồng [1]. Về sau, thôn Cây Vông được đổi tên chữ thành làng Bích Ngô, còn thôn Cây Bồng tách ra trở thành địa danh riêng mang tên Bồng Miêu [1]. Đoạn cuối tấm bia còn khắc một bài thơ thất ngôn bát cú lưu truyền lại ký ức buổi đầu dựng ấp, vỡ ruộng và dựng đình phụng thờ thần thánh của người đi mở đất [1].
Tra cứu liên quan
- Bài riêng: làng Bích Ngô.
- Nhân vật: Trần Hưng Nhượng.
- Vùng đất liên quan: Tam Kỳ, phường Quảng Phú, xã Tam Xuân
- Địa danh xuất hiện trong phả ký: Bồng Miêu
- Tra cứu đơn vị hành chính: bảng tra phường xã Đà Nẵng
Điều còn chưa rõ
- Năm mất chính xác của cụ tú tài Đinh Văn Thông và niên đại cụ thể tấm vải gia phả được hoàn thành [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Năm dựng văn bia đa ngữ tại mộ tiền hiền tộc Lê và tộc Nguyễn ở Tam Xuân chưa có mốc thời gian cụ thể trong bài báo [CẦN KIỂM CHỨNG].
- Tình trạng vật lý và phương pháp bảo quản tấm gia phả bằng vải thủ công của tộc Đinh trước tác động của thời gian [CẦN KIỂM CHỨNG].
Cập nhật: tháng 10/2026
Nguồn tham khảo
- Báo Quảng Nam (nay Báo và Phát thanh, Truyền hình Đà Nẵng), Phú Bình, “Những bản phả ký đặc biệt ở Tam Kỳ xưa”, 02/01/2025, https://baodanang.vn/nhung-ban-pha-ky-dac-biet-o-tam-ky-xua-3146921.html, truy cập 23/10/2026.